Nghịch lý “ngân hàng thừa tiền, doanh nghiệp khát vốn” tiếp tục tồn tại, cho thấy khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn vẫn rất lớn.
Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận vốn
Theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp, rào cản lớn nhất hiện nay không phải là thiếu dự án hay thị trường, mà là cơ chế tín dụng chưa phù hợp với đặc thù doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
![]() |
| Ông Nguyễn Viết Thanh, Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển công nghệ Tân Thanh Phương. |
Ông Nguyễn Viết Thanh, Giám đốc Công ty CP Đầu tư phát triển công nghệ Tân Thanh Phương (Thanh Hóa), cho biết giá trị lớn nhất của doanh nghiệp công nghệ nằm ở tài sản trí tuệ như phần mềm, sáng chế, dữ liệu hay kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, những tài sản này hầu như chưa được các tổ chức tín dụng chấp nhận làm tài sản bảo đảm.
Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp khoa học và công nghệ có quy mô nhỏ, ít tài sản cố định. Dù đã có sản phẩm thương mại hóa, hợp đồng và thị trường, họ vẫn khó tiếp cận tín dụng vì không đáp ứng yêu cầu về tài sản thế chấp.
Theo ông Thanh, nếu chưa có cơ chế định giá tài sản trí tuệ, quỹ bảo lãnh tín dụng hoặc mô hình cho vay dựa trên hiệu quả dự án và phương án kinh doanh, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo sẽ rất khó phát triển.
Thực tế tại Thanh Hóa phản ánh khá rõ bức tranh này. Toàn tỉnh có hơn 43.000 doanh nghiệp đăng ký, trong đó khoảng 21.000 doanh nghiệp đang hoạt động có doanh thu, nhưng chỉ khoảng 5.000 doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Điều đó cho thấy phần lớn doanh nghiệp vẫn đứng ngoài dòng vốn chính thức.
Theo doanh nghiệp, nguyên nhân không chỉ nằm ở năng lực nội tại mà còn xuất phát từ việc triển khai chính sách thiếu đồng bộ, hướng dẫn chưa thống nhất giữa các cơ quan quản lý, hiệp hội và hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng và doanh nghiệp chưa gặp nhau
Vốn luôn là “mạch máu” của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong khi nhiều ngân hàng đang dư thanh khoản thì không ít doanh nghiệp vẫn phải xoay xở với bài toán thiếu vốn sản xuất, kinh doanh.
Tại các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp ở Thanh Hóa, nhiều doanh nghiệp cho biết câu trả lời họ thường nhận được là “ngân hàng có quy định nội bộ”. Dù đúng về quy trình quản trị rủi ro, nhưng trong thực tế, đây lại trở thành rào cản khiến nhiều chính sách hỗ trợ tín dụng khó phát huy hiệu quả.
Một bất cập khác là thiếu cơ chế đối thoại hai chiều. Các đánh giá của ngân hàng chủ yếu dựa trên hồ sơ tín dụng, trong khi chưa có kênh chính thức để tiếp nhận đầy đủ phản ánh từ phía doanh nghiệp. Điều này dẫn đến khoảng cách thông tin, khiến nhiều doanh nghiệp bị đánh giá chưa đủ điều kiện vay vốn dù vẫn có đơn hàng, dòng tiền và khả năng thanh toán.
![]() |
| Ông Hoàng Ngọc Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Minh Lộ |
Ông Hoàng Ngọc Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Minh Lộ, cho rằng khó khăn lớn nhất vẫn là tài sản bảo đảm. Với doanh nghiệp công nghệ, tài sản chủ yếu là giải pháp, sáng chế và dự án, nhưng đây đều là tài sản vô hình nên rất khó được ngân hàng chấp nhận.
Ở chiều ngược lại, các ngân hàng cũng cho rằng việc cho vay phải tuân thủ quy định về an toàn tín dụng.
![]() |
| Giám đốc VietinBank chi nhánh Bắc Thanh Hóa Lê Văn Dũng |
Ông Lê Văn Dũng, Giám đốc VietinBank Chi nhánh Bắc Thanh Hóa, cho biết địa phương đã tổ chức nhiều hội nghị kết nối ngân hàng và doanh nghiệp nhưng hiệu quả còn hạn chế vì hai bên chưa thực sự hiểu nhau. Doanh nghiệp cho rằng ngân hàng đặt quá nhiều rào cản, trong khi ngân hàng phải tuân thủ các quy định kiểm soát rủi ro. Muốn dòng vốn lưu thông tốt hơn, hai bên cần đối thoại cởi mở và chia sẻ thông tin nhiều hơn.
Theo ông Đầu Thanh Tùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, điểm nghẽn hiện nay xuất phát từ cả hai phía. Doanh nghiệp khó vay vì thiếu tài sản bảo đảm, phương án kinh doanh chưa đủ sức thuyết phục hoặc hồ sơ pháp lý chưa hoàn chỉnh. Ngược lại, ngân hàng thận trọng giải ngân do áp lực kiểm soát rủi ro và nợ xấu. Trong khi đó, vai trò kết nối, hướng dẫn và hỗ trợ của chính quyền địa phương vẫn chưa phát huy đầy đủ hiệu quả.
Sửa luật để khơi thông dòng vốn
Thực tiễn cho thấy, bài toán vốn không thể chỉ giải quyết bằng việc yêu cầu ngân hàng nới điều kiện cho vay, mà cần một khuôn khổ pháp lý phù hợp hơn với đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Việc sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tập trung vào các chính sách có tính thực thi cao, như nâng cao hiệu quả quỹ bảo lãnh tín dụng, mở rộng các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp, hoàn thiện cơ chế định giá tài sản trí tuệ, chấp nhận tài sản hình thành từ dự án hoặc tài sản vô hình trong một số trường hợp phù hợp.
Đồng thời, luật cũng cần quy định rõ hơn trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng và chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ, nâng cao năng lực quản trị và tiếp cận vốn.
Khi doanh nghiệp có dự án khả thi nhưng thiếu tài sản thế chấp, còn ngân hàng có nguồn vốn nhưng không dám cho vay, vấn đề không chỉ nằm ở từng doanh nghiệp hay từng ngân hàng mà là ở thiết kế chính sách. Sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng thực chất hơn sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách này, giúp dòng vốn lưu thông hiệu quả hơn và tạo động lực cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững.