| Bài liên quan |
| Hà Nội định vị công nghiệp văn hóa là động lực tăng trưởng mới |
| Hoàn thiện khung pháp lý để công nghiệp văn hóa bứt phá |
Sáng 8/9, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.
Tham dự buổi làm việc có Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh; Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng; các Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Đặng Xuân Phương, Tạ Văn Hạ cùng các thành viên Ủy ban và lãnh đạo một số đơn vị liên quan.
Theo dự thảo, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng với 6 nhóm chính sách trọng tâm và 6 nhóm cơ chế đặc thù, hướng tới tạo hành lang pháp lý và động lực mới cho lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
![]() |
| Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa |
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất áp dụng hoàn thuế giá trị gia tăng đối với đoàn phim nước ngoài.
Cùng với đó, dự thảo đề xuất hỗ trợ một phần chi phí đối với các dự án công nghiệp văn hóa có giá trị kinh tế cao và bổ sung các chính sách ưu đãi đối với lĩnh vực xuất bản.
Dự thảo cũng định hướng áp dụng ưu đãi đầu tư đối với hạ tầng, tài sản trí tuệ gốc và các sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm; thu hút nhà đầu tư nước ngoài đáp ứng các tiêu chí về công nghệ, tài sản trí tuệ và khả năng tạo giá trị tại Việt Nam.
Một số công cụ phát triển thị trường cũng được đề xuất, gồm hỗ trợ tiêu dùng, Thẻ văn hóa quốc gia, sàn giao dịch và các cơ chế hỗ trợ phát triển thị trường văn hóa trong nước và quốc tế.
Nhóm chính sách thứ nhất tập trung phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Dự thảo xác định các chủ thể tham gia hệ sinh thái, đồng thời xây dựng cơ chế hỗ trợ, liên kết trên địa bàn, kết nối liên vùng, trong nước và quốc tế.
Các nội dung hỗ trợ bao gồm cung cấp thông tin, công cụ sáng tạo, sở hữu trí tuệ, định giá, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu quốc gia, phát triển thị trường và tăng cường liên kết giữa công nghiệp văn hóa với các ngành kinh tế khác.
Dự thảo đồng thời đề xuất cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa mà pháp luật chưa có quy định hoặc cần được thử nghiệm trong phạm vi, thời gian và không gian nhất định.
Cơ chế này nhằm tạo điều kiện thử nghiệm các mô hình mới trong phạm vi kiểm soát, đồng thời cung cấp dữ liệu thực tế để cơ quan quản lý đánh giá trước khi xem xét khả năng áp dụng rộng rãi.
Nhóm chính sách thứ hai liên quan đến tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa. Dự thảo hướng tới mở rộng khả năng tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp sở hữu tài sản trí tuệ nhưng có ít tài sản hữu hình; đồng thời làm rõ cơ sở thông tin phục vụ góp vốn, giao dịch, cấp quyền và sử dụng tài sản trí tuệ để bảo đảm tín dụng.
Việc phát triển dữ liệu giá và hồ sơ tài sản trí tuệ được kỳ vọng góp phần giảm rủi ro trong các giao dịch.
Nhóm chính sách thứ ba tập trung phát triển nguồn nhân lực. Dự thảo định hướng tăng sự gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động; hỗ trợ đào tạo trong các ngành nghề ưu tiên và tạo thêm công cụ thu hút nhân lực chất lượng cao theo từng nhóm đối tượng, điều kiện và danh mục cụ thể.
Nhóm chính sách thứ tư là phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa. Chính sách hướng tới giảm chi phí mặt bằng và chi phí sử dụng hạ tầng dùng chung, tạo điều kiện tập trung doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo.
Do liên quan đến đất đai, quy hoạch, tài sản công và đầu tư, các chính sách ưu đãi được định hướng gắn với điều kiện, phân loại dự án và cơ chế đánh giá hiệu quả nhằm hạn chế đầu tư kém hiệu quả hoặc lợi dụng chính sách.
Nhóm chính sách thứ năm tập trung phát triển thị trường công nghiệp văn hóa. Dự thảo hướng tới giải quyết những hạn chế trong thương mại hóa sản phẩm văn hóa, từ năng lực quản trị, bảo hộ quyền ở nước ngoài đến hạ tầng giao dịch, mạng lưới phân phối và hoạt động xúc tiến.
Chính sách được thiết kế theo hướng tác động đồng thời đến phía cung, phía cầu và các hoạt động phát triển thị trường, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận sản phẩm văn hóa ở cả thị trường trong nước và quốc tế.
Nhóm chính sách thứ sáu là tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư. Theo định hướng của dự thảo, nguồn lực nhà nước sẽ được sử dụng để hỗ trợ hạ tầng dùng chung, chia sẻ một phần rủi ro và khuyến khích nguồn vốn tư nhân, thay vì thay thế nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Các chính sách hỗ trợ, ưu đãi được gắn với điều kiện, tiêu chí, chứng từ, cơ chế thu hồi và đánh giá kết quả.
Bên cạnh 6 nhóm chính sách trọng tâm, dự thảo Luật đề xuất các cơ chế đặc thù nhằm tạo dư địa phát triển cho công nghiệp văn hóa.
Trong đó có việc tạo cơ sở pháp lý cho lập hồ sơ, định giá, góp vốn, giao dịch và sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm, bảo lãnh tín dụng; cho phép thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới.
Dự thảo cũng đề xuất hình thành, phát triển các tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và hạ tầng số; phân cấp cho địa phương, áp dụng cơ chế hậu kiểm đối với một số hoạt động, sự kiện theo phương án được chấp thuận.
Cùng với các cơ chế ưu đãi, dự thảo đặt ra yêu cầu kiểm soát nguy cơ lợi dụng danh nghĩa công nghiệp văn hóa để hưởng chính sách; định giá tài sản trí tuệ không sát thực tế; lựa chọn dự án thiếu minh bạch hoặc đầu tư hạ tầng không hiệu quả.
Theo đó, các cơ chế xác nhận chuyên môn, công khai tiêu chí, thẩm định độc lập, kiểm soát xung đột lợi ích, hậu kiểm và thu hồi khi có vi phạm được xem là những công cụ cần thiết để bảo đảm chính sách được thực hiện đúng mục tiêu.
Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa dự kiến được Quốc hội cho ý kiến và xem xét thông qua tại kỳ họp vào tháng 10/2026. Nếu được thông qua, đạo luật được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý đồng bộ hơn, khơi thông nguồn lực xã hội và thúc đẩy công nghiệp văn hóa trở thành một lĩnh vực có đóng góp ngày càng rõ nét cho kinh tế đất nước.