Tây Ninh đang đứng trước một bài toán lớn hơn chuyện mở rộng sản xuất. Khi chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, lợi thế về vị trí, nguyên liệu hay năng lực chế biến chỉ có ý nghĩa nếu chuyển được thành đơn hàng và giá trị gia tăng. Từ thị trường Hoa Kỳ, Trung Đông đến châu Âu, cùng một thông điệp đang được đặt ra: Hàng hóa muốn đi xa phải có tiêu chuẩn, thương hiệu và một chuỗi cung ứng đủ minh bạch.
![]() |
| Logistics được xác định là một cấu phần quan trọng trong năng lực cạnh tranh, giúp doanh nghiệp Tây Ninh nâng hiệu quả kết nối thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Ảnh minh họa |
Theo ông Lê Văn Hẳn, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh, trước sự tái cấu trúc nhanh của chuỗi cung ứng toàn cầu, tỉnh định hướng chuyển lợi thế địa kinh tế thành lợi thế cạnh tranh, từng bước trở thành điểm kết nối quan trọng về sản xuất, thương mại, logistics, xuất nhập khẩu và thương mại điện tử của khu vực.
Cách đặt vấn đề này đáng chú ý ở chỗ, Tây Ninh không chỉ nói đến năng lực sản xuất mà phía sau mục tiêu kết nối là bài toán chi phí, tiêu chuẩn và thị trường.
Sản xuất được nhiều hàng hóa nhưng chi phí logistics cao, khó truy xuất hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn thì lợi thế vị trí cũng khó chuyển thành lợi thế thương mại. Vì vậy, tỉnh đặt trọng tâm vào nâng hiệu quả kết nối thị trường, giảm chi phí logistics, đáp ứng các tiêu chuẩn mới và tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Thương mại điện tử được xác định là hạ tầng thị trường mới, logistics trở thành một cấu phần của năng lực cạnh tranh. Xuất khẩu cũng được đặt lại theo hướng nâng giá trị, thay vì chỉ mở rộng sản lượng.
Đây là điểm cần được nhìn kỹ. Với doanh nghiệp, một thị trường mới chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra hợp đồng, đơn hàng và dòng tiền. Hoạt động kết nối vì thế không thể dừng ở việc gặp gỡ, giới thiệu sản phẩm.
Tây Ninh cam kết tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; phát triển hạ tầng công nghiệp, thương mại, logistics; đẩy mạnh chuyển đổi số và đồng hành cùng doanh nghiệp mở rộng thị trường. Mục tiêu được nêu thẳng la biến các kết nối thành dự án, hợp đồng, đơn hàng và giá trị kinh tế cụ thể.
Thị trường Trung Đông đang cho thấy một thực tế khác: Bất ổn địa chính trị không đồng nghĩa cánh cửa thương mại đóng lại.
Theo ông Trần Tấn Sỹ, Tổng giám đốc Vietnam Food Pavilion, Tập đoàn Lootah (Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất - UAE), vấn đề là doanh nghiệp phải thay đổi cách tiếp cận. Với Tây Ninh, hướng đi được đặt ra là giảm phụ thuộc vào việc tăng sản lượng, chuyển sang nâng giá trị xuất khẩu, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn Halal.
UAE có thể trở thành cửa ngõ để hàng hóa Tây Ninh đi sâu hơn vào thị trường Trung Đông. Nhưng muốn biến cơ hội thành đơn hàng, xúc tiến thương mại phải đi thêm một bước.
Ông Sỹ đề xuất chuyển sang hỗ trợ “Market Access”, từ lựa chọn sản phẩm, chuẩn hóa, kết nối buyer đến thử nghiệm và mở rộng thị trường. Trước mắt, có thể chọn doanh nghiệp và sản phẩm có lợi thế để xây dựng mô hình mẫu, chứng minh bằng đơn hàng thực tế rồi mới nhân rộng.
Điểm đáng lưu ý nằm ở chữ “đơn hàng”. Xúc tiến thương mại nếu chỉ tạo ra danh sách kết nối sẽ khó đo được hiệu quả. Khi được đặt cạnh yêu cầu thử nghiệm sản phẩm và mở rộng thị trường, hiệu quả xúc tiến được kéo về kết quả kinh doanh cụ thể.
Ở lĩnh vực chăn nuôi, câu chuyện còn khắt khe hơn. Ông Vũ Mạnh Hùng, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hùng Nhơn, cho rằng muốn vào các thị trường tiêu chuẩn cao, doanh nghiệp phải xây dựng chuỗi giá trị đạt chuẩn quốc tế, thay vì chỉ có một sản phẩm tốt.
Chuỗi đó phải được kiểm soát từ con giống, thức ăn, trang trại, an toàn sinh học đến chế biến và truy xuất nguồn gốc. Qua thực tiễn hợp tác với các đối tác châu Âu, ông Hùng cho rằng sức cạnh tranh quốc tế nằm ở khả năng kết nối các mắt xích bằng một hệ tiêu chuẩn thống nhất, giữ chất lượng ổn định và bảo đảm tính minh bạch.
Sản xuất xanh, giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên cũng đã trở thành điều kiện để mở cửa thị trường. Đây là những yêu cầu doanh nghiệp không thể xử lý ở khâu cuối cùng, bởi chất lượng của sản phẩm xuất khẩu phụ thuộc vào cả chuỗi.
Nếu tiêu chuẩn quyết định khả năng tiếp cận thị trường, xuất xứ đang trở thành vấn đề có thể quyết định việc giữ được thị trường hay không. Theo ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ, doanh nghiệp phải đặc biệt cảnh giác với gian lận xuất xứ, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và chuyển tải bất hợp pháp qua nước thứ ba.
Hồ sơ phải chứng minh được nguồn nguyên liệu, nhà cung cấp, các công đoạn sản xuất tại Việt Nam và tỷ lệ giá trị gia tăng. Các dữ liệu này cũng phải thống nhất giữa hồ sơ sản xuất, hóa đơn, vận chuyển và thanh toán.
Đây là yêu cầu rất thực tế đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Bởi khi một lô hàng bị đặt vấn đề về xuất xứ, câu chuyện không còn nằm ở riêng sản phẩm. Cả chuỗi cung ứng phía sau phải được kiểm chứng.
Số liệu về phòng vệ thương mại càng cho thấy áp lực này. Theo bà Trần Đỗ Quyên, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), đến tháng 8/2026, Việt Nam đã đối mặt 326 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại. Hoa Kỳ chiếm 82 vụ, cao nhất trong các thị trường. Riêng vụ gỗ dán, Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá cuối cùng 90,12%, cùng thuế chống trợ cấp hầu hết doanh nghiệp là 47,68%.
Với doanh nghiệp ở Tây Ninh, cảnh báo không nằm ở việc né tránh một vụ điều tra cụ thể. Vấn đề là phải kiểm soát rủi ro ngay từ nguồn nguyên liệu và quá trình sản xuất. Truy xuất nguồn gốc, minh bạch dữ liệu, số hóa hồ sơ và chủ động cập nhật chính sách thương mại Hoa Kỳ vì thế trở thành một phần của năng lực xuất khẩu.
![]() |
| Chế biến sâu, nâng chuẩn chất lượng và xây dựng thương hiệu được đặt ra nhằm chuyển lợi thế sản xuất từ sản lượng sang giá trị cao hơn. Ảnh minh họa |
Ở thủ công mỹ nghệ, ông Võ Thanh Tú, Giám đốc Công ty TNHH MTV Hòa Thành Long An, nhìn nhận Tây Ninh có lợi thế về nguyên liệu, lao động và vị trí kết nối vùng.
Nhưng lợi thế đó chưa tự tạo ra vị thế trên thị trường quốc tế. Vì vậy, doanh nghiệp cần chuyển từ gia công sang xây dựng thương hiệu, nâng thiết kế, tiêu chuẩn chất lượng và năng lực sản xuất; đồng thời đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Kỳ vọng đối với xúc tiến thương mại cũng được đặt ở kết quả cụ thể hơn: hợp đồng, đơn hàng và thị trường mới.
Với thủ công mỹ nghệ, giá trị còn nằm ở bản sắc. Sản phẩm không chỉ được bán bằng công năng mà còn bằng thiết kế, câu chuyện và dấu ấn Việt Nam. Khi doanh nghiệp vẫn chủ yếu làm gia công, phần giá trị cao hơn của chuỗi rất dễ nằm ngoài khâu sản xuất.
Ngành sắn cũng đang đứng trước bài toán tương tự. Theo ông Lê Hữu Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam cũng là Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Tinh bột mì Tây Ninh, trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu gần 2 triệu tấn sắn và sản phẩm từ sắn, kim ngạch trên 700 triệu USD. Tuy nhiên, hơn 90% kim ngạch vẫn phụ thuộc thị trường Trung Quốc. Một thị trường chiếm tỷ trọng quá lớn đồng nghĩa rủi ro tập trung cũng lớn. Vì vậy, đa dạng hóa đầu ra không còn là lựa chọn mang tính dài hạn mà đã trở thành yêu cầu đặt ra với ngành hàng.
Tây Ninh có hơn 60 nhà máy chế biến và lợi thế kết nối nguồn nguyên liệu từ Campuchia. Theo ông Hùng, tỉnh có thể trở thành trung tâm chế biến sâu, giao dịch sản phẩm sắn của khu vực. Muốn vậy, trọng tâm phải là nâng chuẩn chất lượng, phát triển tinh bột biến tính, kinh tế tuần hoàn và xây dựng thương hiệu tinh bột mì Việt Nam.
Nhìn ở góc độ dài hạn, lợi thế của Tây Ninh không nằm riêng ở vị trí. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng nối vị trí ấy với hạ tầng, sản xuất, logistics, tiêu chuẩn và thị trường.
Khi thị trường ngày càng kiểm soát chặt xuất xứ, tiêu chuẩn và tính minh bạch, doanh nghiệp không còn nhiều khoảng trống cho cách làm dựa vào sản lượng đơn thuần. Tây Ninh muốn trở thành điểm kết nối của chuỗi cung ứng thì chính các doanh nghiệp phải nâng chất lượng của từng mắt xích.
Đích đến, như tỉnh đặt ra, không phải thêm một cuộc kết nối. Đó phải là dự án, hợp đồng, đơn hàng và giá trị kinh tế thực tế.