Đó là tinh thần nổi bật trong dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) đang được đặt ra, với mục tiêu vừa tháo gỡ những điểm chưa phù hợp của Luật năm 2020, vừa đáp ứng yêu cầu đối ngoại và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
Mở thêm không gian hợp tác cho địa phương và khu kinh tế
Trình bày Tờ trình dự án Luật, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết việc xây dựng luật nhằm thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Văn kiện Đại hội XIV, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, trong đó có Nghị quyết 59-NQ/TW, Nghị quyết 06-NQ/TW và Chỉ thị số 56-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ký kết, thực hiện các cam kết quốc tế.
![]() |
| Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành phiên họp (Ảnh: https://quochoi.vn). |
Một mục tiêu quan trọng của dự án luật là mở rộng chủ thể ký kết, tăng cường phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa trình tự, thủ tục và ứng dụng khoa học, công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế.
Dự thảo gồm 6 chương, 48 điều, trong đó hoàn thiện một số quy định để phân biệt rõ hơn giữa thỏa thuận quốc tế và điều ước quốc tế.
Nhìn từ nhu cầu phát triển kinh tế, việc mở rộng chủ thể có ý nghĩa đáng chú ý. Các khu kinh tế, khu công nghiệp, đặc khu ngày càng có nhu cầu hợp tác quốc tế trực tiếp, trong khi các xã biên giới cũng cần sự linh hoạt nhất định trong hợp tác qua biên giới.
Tại phiên thảo luận, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng việc sửa đổi luật phải thích ứng với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.
Theo Chủ tịch Quốc hội, việc mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng theo hướng có kiểm soát, lựa chọn hợp lý sẽ phản ánh đúng thực tiễn.
Với cộng đồng doanh nghiệp, đây là thay đổi có thể tạo thêm đầu mối và không gian để các địa phương, khu vực kinh tế chủ động tìm kiếm đối tác, thúc đẩy hợp tác và thu hút nguồn lực quốc tế.
Phân cấp phải đi cùng kiểm soát rủi ro
Trao thêm quyền không đồng nghĩa với giảm yêu cầu kiểm soát.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn lưu ý, việc mở rộng chủ thể có thể dẫn đến phân tán và thiếu kiểm soát thống nhất về đối ngoại. Đặc biệt, UBND xã biên giới có năng lực chuyên môn và nguồn lực hạn chế, nếu không quy định rõ lĩnh vực được phép ký hoặc quy trình phê duyệt có thể phát sinh rủi ro pháp lý hoặc chính trị.
Vì vậy, dự thảo cần quy định rõ hơn cơ chế giám sát, đồng thời Chính phủ phải có hướng dẫn cụ thể.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung trình bày Tờ trình dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi). |
Đối với các thỏa thuận được phân cấp, yêu cầu cũng không dừng ở thời điểm ký kết. Chủ tịch Quốc hội đề nghị xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì thực hiện, báo cáo định kỳ, đánh giá kết quả và có cơ chế thu hồi hoặc chấm dứt thỏa thuận nếu không được thực hiện hoặc gây rủi ro.
Vai trò kiểm tra, giám sát của Bộ Ngoại giao đối với các thỏa thuận được phân cấp cũng cần được tăng cường.
Đây là điểm có ý nghĩa trực tiếp với doanh nghiệp. Một thỏa thuận hợp tác chỉ tạo ra giá trị khi cam kết được chuyển hóa thành chương trình, dự án và kết quả thực tế. Nếu thiếu cơ chế theo dõi sau ký kết, việc mở rộng hợp tác có thể không tạo ra hiệu quả tương xứng.
Dữ liệu trở thành hạ tầng của hoạt động đối ngoại
Một trong những thay đổi đáng chú ý của dự án luật là đưa chuyển đổi số trở thành một cấu phần thực chất trong quản lý thỏa thuận quốc tế.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh đây là bước tiến quan trọng so với Luật năm 2020. Cơ sở dữ liệu về thỏa thuận quốc tế sẽ góp phần minh bạch thông tin, tránh trùng lặp và hỗ trợ công tác đối ngoại tổng thể.
Theo đó, cần xác định rõ trách nhiệm xây dựng, vận hành và cập nhật cơ sở dữ liệu; đồng thời quy định thời gian công bố thỏa thuận quốc tế trên cổng thông tin điện tử.
Các thỏa thuận quan trọng cũng cần có cơ chế đánh giá định kỳ hiệu quả thực hiện và báo cáo Quốc hội, Chính phủ.
Với doanh nghiệp, một hệ thống dữ liệu được tổ chức tốt có thể giúp giảm tình trạng thông tin phân tán, tăng khả năng nhận diện những chương trình hợp tác đang được triển khai và hỗ trợ tốt hơn cho việc tìm kiếm cơ hội kết nối.
Nhưng chuyển đổi số cũng kéo theo yêu cầu về nguồn lực.
Báo cáo thẩm tra của Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tới cho biết Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành luật. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra lưu ý rằng dự thảo tuy xác định không làm phát sinh nguồn lực nhưng lại mở rộng chủ thể ký kết, bổ sung nhiệm vụ xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu, đào tạo, bồi dưỡng và tăng cường quản lý sau ký kết.
Do đó, cần đánh giá đầy đủ, lượng hóa chính xác nhu cầu và khả năng cân đối nguồn tài chính, nhân lực và hạ tầng số, nhất là đối với các chủ thể mới.
Ranh giới pháp lý phải đủ rõ để doanh nghiệp yên tâm
Một vấn đề khác được đặt ra là xác định chính xác đâu là thỏa thuận quốc tế.
Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại tán thành việc tiếp tục sử dụng tiêu chí “không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế” để phân biệt thỏa thuận quốc tế với điều ước quốc tế.
Văn bản thỏa thuận quốc tế cũng phải thể hiện rõ tính chất này.
Cơ quan thẩm tra đồng thời đề nghị bổ sung tiêu chí hoặc giao Chính phủ hướng dẫn việc phân biệt thỏa thuận quốc tế với hợp đồng, thỏa thuận đầu tư, kinh doanh, văn bản hợp tác chuyên ngành và các văn bản hỗn hợp.
Điểm mấu chốt là việc xác định phải dựa trên bản chất nội dung, chủ thể, quyền và trách nhiệm thực hiện, chứ không chỉ dựa vào tên gọi.
Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng khi hoạt động hợp tác quốc tế ngày càng gắn với đầu tư, kinh doanh và chuỗi liên kết xuyên biên giới. Ranh giới pháp lý rõ ràng sẽ giúp các chủ thể tham gia biết mình được làm gì, phải chịu trách nhiệm đến đâu và cơ chế phê duyệt nào được áp dụng.
Linh hoạt hơn nhưng phải quản trị tốt hơn
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đánh giá Luật Thỏa thuận quốc tế không đơn thuần là công cụ kỹ thuật về thủ tục ký kết, mà còn là công cụ quản lý hoạt động đối ngoại ở cấp độ mềm.
Các cam kết trong thỏa thuận quốc tế có thể không mang tính ràng buộc cao như điều ước quốc tế, nhưng vẫn tác động trực tiếp tới uy tín và hiệu quả hợp tác của Việt Nam.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải cân bằng giữa linh hoạt và kiểm soát; đồng bộ chặt chẽ với Luật Điều ước quốc tế (sửa đổi) năm 2025 và các quy định về chính quyền địa phương 2 cấp; đồng thời bổ sung đánh giá tác động, theo dõi hiệu quả thực hiện thỏa thuận quốc tế như một nghĩa vụ bắt buộc.
“Dự thảo Luật lần này thích ứng với thực tiễn tổ chức bộ máy, với yêu cầu hội nhập, vừa mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho các chủ thể mới, vừa siết chặt quản lý tập trung. Nếu được xây dựng tốt sẽ tháo gỡ điểm nghẽn của Luật năm 2020, tạo điều kiện cho hoạt động đối ngoại linh hoạt hơn ở cấp ngành và địa phương”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.
Với cộng đồng doanh nghiệp, giá trị lớn nhất của thay đổi này nằm ở một hướng đi khá rõ: hợp tác quốc tế được trao thêm không gian ở cấp địa phương và các trung tâm kinh tế, nhưng phải được vận hành trên nền tảng dữ liệu, trách nhiệm và quản trị rủi ro.
Đó cũng là điều kiện để chuyển đổi số không dừng ở việc số hóa hồ sơ, mà thực sự trở thành hạ tầng giúp Việt Nam mở rộng kết nối, nâng chất lượng hội nhập và biến các thỏa thuận hợp tác thành những cơ hội kinh tế cụ thể.