Một nền kinh tế muốn đi xa không thể chỉ dựa vào số lượng doanh nghiệp. Ở những quốc gia đã vươn lên vị trí dẫn đầu, phía sau năng lực cạnh tranh thường có những doanh nghiệp đủ lớn để đầu tư dài hạn, làm chủ công nghệ, mở rộng thị trường quốc tế và kéo theo cả một mạng lưới nhà cung cấp.
Đó là điều có thể nhìn thấy qua Samsung tại Hàn Quốc, Huawei và Tencent tại Trung Quốc hay Siemens, Volkswagen tại Đức. Điểm chung không nằm ở việc các quốc gia này có một vài doanh nghiệp khổng lồ, mà ở khả năng biến doanh nghiệp lớn thành hạt nhân của hệ sinh thái kinh tế.
![]() |
| Ngành công nghiệp phụ trợ là một phần quan trọng trong các ngành công nghiệp quốc gia trong thời đại hội nhập kinh tế toàn cấu. Nói cách khác, ngành công nghiệp ở mỗi quốc gia không thể phát triển mạnh mẽ nếu không có ngành công nghiệp phụ trợ hưng thịnh bởi nó là yếu tố xác định chi phí sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm cuối cùng (Ảnh minh họa). |
Khi doanh nghiệp lớn kéo cả chuỗi cung ứng
Trung Quốc là một ví dụ rõ về quá trình doanh nghiệp lớn đồng hành với sự chuyển dịch của nền kinh tế.
Tencent phát triển hệ sinh thái số rộng lớn từ nền tảng WeChat, thanh toán điện tử, giải trí đến nhiều dịch vụ khác. Alibaba góp phần thúc đẩy thương mại điện tử và tạo thêm kênh tiếp cận thị trường cho hàng triệu doanh nghiệp. Huawei lại đi theo hướng đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển, qua đó nâng năng lực công nghệ của Trung Quốc trong viễn thông và nhiều lĩnh vực công nghệ cao.
Khi các doanh nghiệp này mở rộng ra thị trường quốc tế, tác động không còn giới hạn trong phạm vi một doanh nghiệp. Nhu cầu về linh kiện, dịch vụ, logistics, nhân lực công nghệ và tài chính cũng mở rộng theo.
Hàn Quốc cho thấy một mô hình khác nhưng cùng tạo ra hiệu ứng tương tự. Samsung từ một doanh nghiệp sản xuất trong nước đã trở thành tập đoàn công nghệ toàn cầu, hiện diện trong nhiều mắt xích quan trọng của điện tử và bán dẫn.
LG cũng xây dựng vị thế quốc tế trong điện tử, hóa chất và pin xe điện. Khi những doanh nghiệp này đầu tư vào các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, hệ sinh thái doanh nghiệp cung ứng và nguồn nhân lực đi cùng cũng phải nâng cấp.
Đức lại dựa nhiều vào sức mạnh công nghiệp. Siemens gắn với tự động hóa, hạ tầng và công nghiệp số; Volkswagen tạo dựng một hệ thống sản xuất ô tô quy mô lớn; SAP phát triển thành doanh nghiệp phần mềm quản trị có vị thế toàn cầu.
Những doanh nghiệp này góp phần làm nên sức mạnh của thương hiệu “Made in Germany”, đồng thời tạo thị trường cho hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia chuỗi cung ứng.
Điểm chung đáng chú ý là doanh nghiệp đầu tàu không chỉ lớn về doanh thu. Họ phải đủ sức đầu tư cho R&D, tạo tiêu chuẩn, mở thị trường và hình thành nhu cầu cho các doanh nghiệp khác.
Việt Nam đã có những hạt nhân ban đầu
Việt Nam cũng đã xuất hiện những doanh nghiệp có khả năng đảm nhận vai trò dẫn dắt ở từng lĩnh vực như Viettel trong công nghệ và viễn thông, Vingroup ở công nghiệp và công nghệ, Techcombank trong tài chính, Vinamilk trong thực phẩm hay Masterise Group trong bất động sản.
![]() |
| Doanh nghiệp lớn muốn vươn xa, phải có các doanh nghiệp vệ tinh để xây dựng chuỗi cung ứng bền vững. Nhà nước cần có chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành vệ tinh cho các Tập đoàn, doanh nghiệp lớn (Ảnh minh họa). |
Nhưng từ một doanh nghiệp lớn đến một doanh nghiệp dẫn dắt ngành và kéo được hệ sinh thái trong nước vẫn là khoảng cách đáng kể.
Đây cũng là lý do câu chuyện doanh nghiệp đầu tàu cần được đặt cùng với bài toán công nghiệp hỗ trợ, khoa học - công nghệ, nhân lực và thị trường vốn.
Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 của Chính phủ đã đặt mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Công nghiệp hỗ trợ được xác định là nền tảng để xây dựng nền công nghiệp theo hướng bền vững, tự chủ và hiện đại.
Nếu không có một mạng lưới doanh nghiệp cung ứng đủ năng lực, doanh nghiệp đầu tàu rất dễ trở thành một “ốc đảo”: quy mô lớn nhưng phần giá trị được tạo ra trong nước chưa tương xứng.
Không thể có doanh nghiệp đầu tàu nếu thiếu công nghệ
Một điểm khác Việt Nam cần đặc biệt lưu ý là doanh nghiệp dẫn dắt trong giai đoạn mới không thể chỉ dựa vào quy mô tài sản hay thị phần.
Khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, năng lực làm chủ công nghệ sẽ ngày càng quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 được điều chỉnh trong năm 2026 cũng đặt mục tiêu để lĩnh vực này đóng góp trực tiếp vào nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia.
Đặc biệt, Việt Nam đang đặt trọng tâm vào các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử và những lĩnh vực công nghệ cao khác. Nêu ý kiến chỉ đạo tại buổi làm việc ngày 25/05/2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh phát triển công nghệ chiến lược là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, tự chủ phát triển và vị thế quốc gia.
Điều này đặt ra một yêu cầu mới cho các doanh nghiệp lớn: không chỉ mở rộng quy mô mà phải tăng hàm lượng công nghệ trong giá trị tạo ra.
Muốn vậy, doanh nghiệp phải đầu tư dài hạn cho R&D, thu hút nhân lực chất lượng cao và xây dựng năng lực nghiên cứu đủ sâu. Chính sách hiện nay cũng đang chuyển theo hướng đầu tư dài hạn hơn cho nghiên cứu cơ bản và gắn nghiên cứu với công nghệ chiến lược.
Bài toán của Việt Nam là tạo hiệu ứng lan tỏa
Từ kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam không nhất thiết phải sao chép mô hình của Hàn Quốc, Trung Quốc hay Đức. Điều cần xây dựng là một hệ sinh thái trong đó doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, viện nghiên cứu, trường đại học và Nhà nước cùng tạo thành chuỗi giá trị.
Nhà nước có thể kiến tạo môi trường chính sách ổn định, đầu tư hạ tầng, tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế và tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn. Doanh nghiệp phải đảm nhận phần khó hơn: chấp nhận đầu tư, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu và bước ra thị trường quốc tế.
Trong hệ sinh thái đó, doanh nghiệp đầu tàu cần được đánh giá không chỉ bằng vốn hóa, doanh thu hay số lượng lao động, mà còn bằng khả năng tạo ra giá trị lan tỏa.
Một tập đoàn công nghệ lớn nhưng không tạo được mạng lưới doanh nghiệp cung ứng trong nước sẽ có tác động khác với một doanh nghiệp vừa làm chủ công nghệ, vừa kéo hàng trăm nhà cung cấp Việt Nam vào chuỗi giá trị.
Một doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn nhưng phụ thuộc phần lớn vào linh kiện nhập khẩu cũng khác với doanh nghiệp tạo ra thị trường cho ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước.
Vì vậy, mục tiêu cuối cùng không phải là có thật nhiều doanh nghiệp tỷ USD. Việt Nam cần những doanh nghiệp đủ tầm để kéo theo cả một hệ sinh thái, từ nghiên cứu, sản xuất đến thị trường quốc tế.
Khi đó, sự lớn mạnh của doanh nghiệp mới thực sự chuyển hóa thành năng lực sản xuất, công nghệ, việc làm chất lượng cao, chuỗi cung ứng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đó có lẽ là bài học lớn nhất từ Samsung, Huawei, Tencent, Siemens hay Volkswagen: một doanh nghiệp có thể trở thành tài sản của quốc gia khi sức mạnh của nó không chỉ nằm trong bảng cân đối kế toán, mà lan tỏa được ra toàn bộ nền kinh tế.