Thứ hai 07/09/2026 15:35
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Việt Nam cần doanh nghiệp đầu tàu để nâng sức cạnh tranh nền kinh tế

Samsung, Huawei, Siemens hay Volkswagen cho thấy sức mạnh doanh nghiệp có thể trở thành sức mạnh quốc gia khi được đặt trong một hệ sinh thái chính sách và công nghiệp phù hợp.

Một nền kinh tế muốn đi xa không thể chỉ dựa vào số lượng doanh nghiệp. Ở những quốc gia đã vươn lên vị trí dẫn đầu, phía sau năng lực cạnh tranh thường có những doanh nghiệp đủ lớn để đầu tư dài hạn, làm chủ công nghệ, mở rộng thị trường quốc tế và kéo theo cả một mạng lưới nhà cung cấp.

Đó là điều có thể nhìn thấy qua Samsung tại Hàn Quốc, Huawei và Tencent tại Trung Quốc hay Siemens, Volkswagen tại Đức. Điểm chung không nằm ở việc các quốc gia này có một vài doanh nghiệp khổng lồ, mà ở khả năng biến doanh nghiệp lớn thành hạt nhân của hệ sinh thái kinh tế.

gành công nghiệp phụ trợ là một phần quan trọng trong các ngành công nghiệp quốc gia trong thời đại hội nhập kinh tế toàn cấu. Nói cách khác, ngành công nghiệp ở mỗi quốc gia không thể phát triển mạnh mẽ nếu không có ngành công nghiệp phụ trợ hưng thịnh bởi nó là yếu tố xác định chi phí sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm cuối cùng.
Ngành công nghiệp phụ trợ là một phần quan trọng trong các ngành công nghiệp quốc gia trong thời đại hội nhập kinh tế toàn cấu. Nói cách khác, ngành công nghiệp ở mỗi quốc gia không thể phát triển mạnh mẽ nếu không có ngành công nghiệp phụ trợ hưng thịnh bởi nó là yếu tố xác định chi phí sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm cuối cùng (Ảnh minh họa).

Khi doanh nghiệp lớn kéo cả chuỗi cung ứng

Trung Quốc là một ví dụ rõ về quá trình doanh nghiệp lớn đồng hành với sự chuyển dịch của nền kinh tế.

Tencent phát triển hệ sinh thái số rộng lớn từ nền tảng WeChat, thanh toán điện tử, giải trí đến nhiều dịch vụ khác. Alibaba góp phần thúc đẩy thương mại điện tử và tạo thêm kênh tiếp cận thị trường cho hàng triệu doanh nghiệp. Huawei lại đi theo hướng đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển, qua đó nâng năng lực công nghệ của Trung Quốc trong viễn thông và nhiều lĩnh vực công nghệ cao.

Khi các doanh nghiệp này mở rộng ra thị trường quốc tế, tác động không còn giới hạn trong phạm vi một doanh nghiệp. Nhu cầu về linh kiện, dịch vụ, logistics, nhân lực công nghệ và tài chính cũng mở rộng theo.

Hàn Quốc cho thấy một mô hình khác nhưng cùng tạo ra hiệu ứng tương tự. Samsung từ một doanh nghiệp sản xuất trong nước đã trở thành tập đoàn công nghệ toàn cầu, hiện diện trong nhiều mắt xích quan trọng của điện tử và bán dẫn.

LG cũng xây dựng vị thế quốc tế trong điện tử, hóa chất và pin xe điện. Khi những doanh nghiệp này đầu tư vào các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, hệ sinh thái doanh nghiệp cung ứng và nguồn nhân lực đi cùng cũng phải nâng cấp.

Đức lại dựa nhiều vào sức mạnh công nghiệp. Siemens gắn với tự động hóa, hạ tầng và công nghiệp số; Volkswagen tạo dựng một hệ thống sản xuất ô tô quy mô lớn; SAP phát triển thành doanh nghiệp phần mềm quản trị có vị thế toàn cầu.

Những doanh nghiệp này góp phần làm nên sức mạnh của thương hiệu “Made in Germany”, đồng thời tạo thị trường cho hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia chuỗi cung ứng.

Điểm chung đáng chú ý là doanh nghiệp đầu tàu không chỉ lớn về doanh thu. Họ phải đủ sức đầu tư cho R&D, tạo tiêu chuẩn, mở thị trường và hình thành nhu cầu cho các doanh nghiệp khác.

Việt Nam đã có những hạt nhân ban đầu

Việt Nam cũng đã xuất hiện những doanh nghiệp có khả năng đảm nhận vai trò dẫn dắt ở từng lĩnh vực như Viettel trong công nghệ và viễn thông, Vingroup ở công nghiệp và công nghệ, Techcombank trong tài chính, Vinamilk trong thực phẩm hay Masterise Group trong bất động sản.

Doanh nghiệp lớn muốn vươn xa, phải có các doanh nghiệp vệ tinh để xây dựng chuỗi cung ứng bền vững. Nhà nước cần có chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành vệ tinh cho các Tập đoàn, doanh nghiệp lớn.
Doanh nghiệp lớn muốn vươn xa, phải có các doanh nghiệp vệ tinh để xây dựng chuỗi cung ứng bền vững. Nhà nước cần có chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành vệ tinh cho các Tập đoàn, doanh nghiệp lớn (Ảnh minh họa).

Nhưng từ một doanh nghiệp lớn đến một doanh nghiệp dẫn dắt ngành và kéo được hệ sinh thái trong nước vẫn là khoảng cách đáng kể.

Đây cũng là lý do câu chuyện doanh nghiệp đầu tàu cần được đặt cùng với bài toán công nghiệp hỗ trợ, khoa học - công nghệ, nhân lực và thị trường vốn.

Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 của Chính phủ đã đặt mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Công nghiệp hỗ trợ được xác định là nền tảng để xây dựng nền công nghiệp theo hướng bền vững, tự chủ và hiện đại.

Nếu không có một mạng lưới doanh nghiệp cung ứng đủ năng lực, doanh nghiệp đầu tàu rất dễ trở thành một “ốc đảo”: quy mô lớn nhưng phần giá trị được tạo ra trong nước chưa tương xứng.

Không thể có doanh nghiệp đầu tàu nếu thiếu công nghệ

Một điểm khác Việt Nam cần đặc biệt lưu ý là doanh nghiệp dẫn dắt trong giai đoạn mới không thể chỉ dựa vào quy mô tài sản hay thị phần.

Khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, năng lực làm chủ công nghệ sẽ ngày càng quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 được điều chỉnh trong năm 2026 cũng đặt mục tiêu để lĩnh vực này đóng góp trực tiếp vào nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia.

Đặc biệt, Việt Nam đang đặt trọng tâm vào các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử và những lĩnh vực công nghệ cao khác. Nêu ý kiến chỉ đạo tại buổi làm việc ngày 25/05/2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh phát triển công nghệ chiến lược là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, tự chủ phát triển và vị thế quốc gia.

Điều này đặt ra một yêu cầu mới cho các doanh nghiệp lớn: không chỉ mở rộng quy mô mà phải tăng hàm lượng công nghệ trong giá trị tạo ra.

Muốn vậy, doanh nghiệp phải đầu tư dài hạn cho R&D, thu hút nhân lực chất lượng cao và xây dựng năng lực nghiên cứu đủ sâu. Chính sách hiện nay cũng đang chuyển theo hướng đầu tư dài hạn hơn cho nghiên cứu cơ bản và gắn nghiên cứu với công nghệ chiến lược.

Bài toán của Việt Nam là tạo hiệu ứng lan tỏa

Từ kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam không nhất thiết phải sao chép mô hình của Hàn Quốc, Trung Quốc hay Đức. Điều cần xây dựng là một hệ sinh thái trong đó doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, viện nghiên cứu, trường đại học và Nhà nước cùng tạo thành chuỗi giá trị.

Nhà nước có thể kiến tạo môi trường chính sách ổn định, đầu tư hạ tầng, tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế và tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn. Doanh nghiệp phải đảm nhận phần khó hơn: chấp nhận đầu tư, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu và bước ra thị trường quốc tế.

Trong hệ sinh thái đó, doanh nghiệp đầu tàu cần được đánh giá không chỉ bằng vốn hóa, doanh thu hay số lượng lao động, mà còn bằng khả năng tạo ra giá trị lan tỏa.

Một tập đoàn công nghệ lớn nhưng không tạo được mạng lưới doanh nghiệp cung ứng trong nước sẽ có tác động khác với một doanh nghiệp vừa làm chủ công nghệ, vừa kéo hàng trăm nhà cung cấp Việt Nam vào chuỗi giá trị.

Một doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn nhưng phụ thuộc phần lớn vào linh kiện nhập khẩu cũng khác với doanh nghiệp tạo ra thị trường cho ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Vì vậy, mục tiêu cuối cùng không phải là có thật nhiều doanh nghiệp tỷ USD. Việt Nam cần những doanh nghiệp đủ tầm để kéo theo cả một hệ sinh thái, từ nghiên cứu, sản xuất đến thị trường quốc tế.

Khi đó, sự lớn mạnh của doanh nghiệp mới thực sự chuyển hóa thành năng lực sản xuất, công nghệ, việc làm chất lượng cao, chuỗi cung ứng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đó có lẽ là bài học lớn nhất từ Samsung, Huawei, Tencent, Siemens hay Volkswagen: một doanh nghiệp có thể trở thành tài sản của quốc gia khi sức mạnh của nó không chỉ nằm trong bảng cân đối kế toán, mà lan tỏa được ra toàn bộ nền kinh tế.

Tin bài khác
Đà Nẵng có thể mở thêm nguồn thu dài hạn từ vùng dược liệu nghìn ha

Đà Nẵng có thể mở thêm nguồn thu dài hạn từ vùng dược liệu nghìn ha

Sau 8 tháng, Đà Nẵng thu ngân sách 63.816 tỷ đồng, trong đó nhà, đất chiếm gần 39,7%. Cùng lúc, các dự án dược liệu quy mô lớn đang mở ra hướng tạo giá trị mới từ đất thông qua sản xuất và chế biến sâu.
4.619 dự án tồn đọng cần được khơi thông để tạo dư địa tăng trưởng

4.619 dự án tồn đọng cần được khơi thông để tạo dư địa tăng trưởng

4.619 dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài liên quan khoảng 203.660 ha đất và tổng vốn đầu tư hơn 3,9 triệu tỷ đồng đang cho thấy một lượng nguồn lực rất lớn của nền kinh tế chưa được khai thác hiệu quả. Bài toán hiện nay không chỉ là xử lý sai phạm, mà còn phải tháo gỡ đúng pháp luật để đất đai, công trình và vốn đầu tư đủ điều kiện sớm quay trở lại nền kinh tế.
Tây Ninh chuyển lợi thế địa kinh tế thành sức cạnh tranh mới

Tây Ninh chuyển lợi thế địa kinh tế thành sức cạnh tranh mới

Tây Ninh định hướng phát huy lợi thế địa kinh tế, phát triển logistics, thương mại điện tử, chế biến sâu và kiểm soát xuất xứ, qua đó nâng giá trị xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế.
Từ Cái Mép Hạ đến Cần Giờ, trục logistics quốc tế đang thành hình?

Từ Cái Mép Hạ đến Cần Giờ, trục logistics quốc tế đang thành hình?

Sự kết nối Cái Mép - Thị Vải, khu thương mại tự do (FTZ) Cái Mép Hạ, Cần Giờ, Long Thành và các vùng công nghiệp phía Đông đang mở ra một cấu trúc logistics mới cho TP. Hồ Chí Minh.
Hà Nội giữ mục tiêu tăng trưởng 11%, dồn lực cho những tháng cuối năm

Hà Nội giữ mục tiêu tăng trưởng 11%, dồn lực cho những tháng cuối năm

Dù thừa nhận áp lực rất lớn để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng khẳng định thành phố không điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng 11%. Từ nay đến cuối năm, toàn hệ thống được yêu cầu tăng tốc, tập trung vào những lĩnh vực còn nhiều dư địa, đặc biệt là xây dựng và đầu tư.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu phục hồi đồng bộ ba hệ thống sông ô nhiễm

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu phục hồi đồng bộ ba hệ thống sông ô nhiễm

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện dự án phục hồi các nguồn nước suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tại Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê theo lộ trình, xác định rõ công trình ưu tiên, nguồn lực và cơ chế vận hành, bảo đảm đầu tư đến đâu phát huy hiệu quả đến đó.
TP. Hồ Chí Minh giải ngân 85.000 tỷ đồng, thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI

TP. Hồ Chí Minh giải ngân 85.000 tỷ đồng, thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI

8 tháng năm 2026, TP. H Chí Minh giải ngân 85.141 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 57,7% kế hoạch năm, cao hơn bình quân chung cả nước; thu hút hơn 10 tỷ USD FDI, tăng 167,3% so với cùng kỳ.
Gần 2.700 dự án được xử lý để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Gần 2.700 dự án được xử lý để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Khi thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều, yêu cầu xử lý dự án tồn đọng được đặt cùng với giải ngân đầu tư công, tháo gỡ thủ tục và nâng cao trách nhiệm thực thi. Mục tiêu là đưa những nguồn lực đang bị đình trệ trở lại nền kinh tế.
Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành tăng tốc tháo gỡ điểm nghẽn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa nguồn vốn và mở thêm dư địa cho doanh nghiệp trong những tháng cuối năm 2026.
Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong 8 tháng năm 2026. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, giải ngân đầu tư công, xử lý dự án tồn đọng và những tác động từ bên ngoài vẫn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác điều hành trong những tháng cuối năm.
Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế và hình thành 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 80% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ. Ở chiều chi, đầu tư phát triển tiếp tục là điểm nhấn khi tăng 35,4%, góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong khi các nhiệm vụ an sinh, quốc phòng, an ninh và trả nợ được bảo đảm.
Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

8 tháng năm 2026, dòng vốn đầu tư tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực khi vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tăng 18,5%, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua. Đáng chú ý, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tăng tới 55,4%, cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tiếp tục được củng cố.
Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Khi các khu kinh tế, khu công nghiệp, đặc khu và địa phương có nhu cầu hợp tác xuyên biên giới ngày càng lớn, dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) đặt ra một cách tiếp cận mới, mở rộng không gian hợp tác nhưng phải đi cùng dữ liệu, trách nhiệm và kiểm soát rủi ro.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 8/2026, đưa chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất của 8 tháng trong nhiều năm qua, cho thấy hoạt động sản xuất đang có sự phục hồi và mở rộng trên diện rộng.