| Các bài viết của tác giả trên Doanh nghiệp và Hội nhập: Từ Sơn Đoòng nghĩ về hành trình ra thế giới |
Một người bạn đang làm việc tại một ngân hàng thuộc nhóm Big4 vừa gọi cho tôi và hào hứng nói: “Nghị quyết mới lần này thực sự mở đường và có nhiều chính sách hỗ trợ du lịch”.
Tôi đồng ý, nhưng cũng nói thêm: mở đường mới chỉ là điều kiện cần. Quan trọng hơn là doanh nghiệp có phương tiện để đi trên con đường ấy hay không.
Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đã đặt đúng vị trí của du lịch: một ngành kinh tế tổng hợp, liên ngành, liên vùng và có tính xã hội hóa cao.
![]() |
| Khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam. |
Du lịch không chỉ tạo doanh thu trực tiếp mà còn kích hoạt thương mại, vận tải, hàng không, nông nghiệp, công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm, bán lẻ và công nghệ. Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, đạt tổng thu 80-90 tỷ USD và đóng góp trực tiếp 10-12% GDP. Đến năm 2045, du lịch được kỳ vọng đóng góp 14-15% GDP, đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới.
Đó là những mục tiêu lớn. Nhưng phía sau các con số phải là một cuộc cải cách thực chất về tư duy phát triển, thể chế và khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp.
Một sản phẩm thông thường phải vượt biên giới mới tạo ra doanh thu xuất khẩu. Với du lịch, người tiêu dùng quốc tế đến tận Việt Nam, sử dụng hàng hóa, dịch vụ và chi trả bằng ngoại tệ ngay trên lãnh thổ Việt Nam.
Mỗi phòng khách sạn, hành trình du thuyền, bữa ăn Việt, chương trình nghệ thuật, sản phẩm thủ công hay chuyến tham quan làng nghề được khách quốc tế mua chính là một hình thức xuất khẩu tại chỗ.
![]() |
| Du lịch biển là thế mạnh của du lịch Việt Nam thu hút khách nước ngoài |
Điều đặc biệt là giá trị ấy không dừng ở doanh nghiệp trực tiếp phục vụ khách. Một bữa ăn tạo đầu ra cho nông dân và ngư dân. Một chuyến du thuyền tạo việc làm cho thủy thủ, hướng dẫn viên và nghệ sĩ. Một tour làng nghề giúp nghệ nhân duy trì nghề truyền thống.
Du lịch vì thế là một trong số ít ngành vừa có khả năng mang ngoại tệ về cho đất nước, vừa phân phối giá trị đến những khu vực mà các ngành kinh tế khác khó tiếp cận như nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo.
Du khách không chỉ mua một món hàng. Họ mua câu chuyện về nơi sản phẩm ấy được tạo ra. Họ không chỉ trả tiền cho một đêm lưu trú mà trả tiền để bước vào không gian văn hóa và đời sống của một vùng đất.
Nếu được tổ chức tốt, du lịch chính là chiếc cầu nối giữa kinh tế và văn hóa, giữa hội nhập quốc tế và bản sắc dân tộc.
Các tập đoàn lớn cần thiết để đầu tư hạ tầng, hình thành sản phẩm quy mô và dẫn dắt thương hiệu quốc gia. Nhưng trải nghiệm hằng ngày của du khách lại được tạo nên bởi hàng nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME): công ty lữ hành, khách sạn gia đình, nhà hàng, đội xe, doanh nghiệp du thuyền, đơn vị tổ chức sự kiện, nghệ nhân, hướng dẫn viên, trang trại và hộ kinh doanh cộng đồng.
Các tập đoàn có thể là đầu tàu, nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa chính là đường ray, nhà ga và mạng lưới đưa du lịch đi sâu vào từng địa phương. SME yếu thì điểm đến khó mạnh.
Đây cũng là lý do chính sách hỗ trợ SME du lịch phải được nhìn như một chính sách phát triển chuỗi giá trị, chứ không chỉ là hỗ trợ một nhóm doanh nghiệp.
| Nếu doanh nghiệp Việt Nam không tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, một phần đáng kể giá trị từ du lịch sẽ chảy ra bên ngoài thông qua các nền tảng phân phối xuyên biên giới, hàng hóa nhập khẩu và dịch vụ trung gian quốc tế. |
Nghị quyết 26-NQ/TW đã đề cập việc sử dụng hiệu quả các quỹ đầu tư, quỹ bảo lãnh tín dụng và công cụ tài chính hỗ trợ doanh nghiệp du lịch nhỏ và vừa; áp dụng tín dụng đầu tư ưu đãi; hỗ trợ lãi suất trực tiếp cho doanh nghiệp thực hiện dự án du lịch xanh, bền vững; đồng thời nghiên cứu cơ chế bảo hiểm rủi ro ngành du lịch có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Đây là những định hướng rất đáng kỳ vọng. Nhưng từ định hướng đến thực tiễn vẫn cần những cơ chế triển khai cụ thể, minh bạch và đủ dễ tiếp cận.
Cuộc điện thoại của người bạn ngân hàng khiến tôi nghĩ nhiều đến vai trò của hệ thống tài chính trong giai đoạn mới.
Du lịch có đặc thù dòng tiền theo mùa vụ và nhạy cảm trước biến động kinh tế, thiên tai, dịch bệnh. Tài sản có giá trị nhất của một doanh nghiệp du lịch nhiều khi không nằm ở nhà xưởng hay bất động sản, mà ở thương hiệu, dữ liệu khách hàng, hợp đồng tương lai, hệ thống phân phối, năng lực vận hành và chất lượng trải nghiệm.
![]() |
| Khách nước ngoài trải nghiệm du lịch biển Việt Nam. |
Nếu ngân hàng vẫn chủ yếu đánh giá khả năng vay vốn bằng tài sản thế chấp hữu hình, phần lớn SME du lịch sẽ tiếp tục đứng ngoài cánh cửa tín dụng, dù có thị trường, năng lực quản trị và mô hình kinh doanh khả thi.
Tôi cho rằng đã đến lúc cần những sản phẩm tài chính chuyên biệt cho du lịch: đánh giá tín dụng dựa trên dòng tiền; cho vay theo hợp đồng và doanh thu tương lai; bảo lãnh tín dụng cho SME; hỗ trợ lãi suất cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; cùng các khoản vay trung và dài hạn phù hợp với chu kỳ đầu tư khách sạn, tàu du lịch, điểm đến và sản phẩm văn hóa.
Cũng cần thiết lập cơ chế bảo hiểm rủi ro ngành du lịch để doanh nghiệp có khả năng chống chịu trước những cú sốc ngoài dự kiến.
Một ngành được xác định là kinh tế mũi nhọn không thể phát triển bằng những công cụ tài chính được thiết kế như đối với một hoạt động dịch vụ phụ trợ thông thường.
Ngân hàng không chỉ nên là nơi cung cấp vốn. Ngân hàng cần trở thành đối tác phát triển, hiểu thị trường, đồng hành cùng doanh nghiệp và cùng quản trị rủi ro. Nghị quyết đã mở cánh cửa. Tín dụng phải trở thành chiếc chìa khóa giúp doanh nghiệp bước qua.
Để chính sách nhanh chóng đi vào cuộc sống, Việt Nam nên xây dựng một chương trình tăng tốc dành riêng cho SME du lịch với bốn cấu phần.
Thứ nhất là tín dụng xanh có bảo lãnh, ưu tiên các dự án tiết kiệm năng lượng, giảm nhựa dùng một lần, sử dụng phương tiện sạch, bảo tồn cảnh quan và tạo sinh kế cho cộng đồng.
Thứ hai là phiếu hỗ trợ chuyển đổi số, giúp doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản trị, tiếp thị số, bán hàng trực tuyến, thanh toán xuyên biên giới và kết nối với các kênh phân phối toàn cầu.
Thứ ba là đào tạo nhân lực theo chuẩn nghề nghiệp quốc tế, tập trung vào ngoại ngữ, quản trị trải nghiệm, công nghệ, bán hàng và phát triển bền vững.
Thứ tư là cơ chế đồng tài trợ cho hoạt động xúc tiến tại thị trường nước ngoài, giúp SME tham gia hội chợ, chiến dịch truyền thông, chương trình kết nối người mua và mạng lưới đại diện du lịch.
Quan trọng hơn, chính sách hỗ trợ phải được đo bằng kết quả. Đó là số việc làm tạo ra, lượng ngoại tệ thu về, mức chi tiêu và thời gian lưu trú của khách, tỷ lệ hàng Việt Nam trong chuỗi cung ứng, mức giảm phát thải, doanh thu của cộng đồng địa phương và giá trị tái đầu tư cho văn hóa, môi trường.
Hội nhập không nên chỉ được đo bằng số lượng biên bản hợp tác hay số hội chợ doanh nghiệp tham dự.
Hội nhập thực chất là khả năng bán sản phẩm trực tiếp cho thị trường quốc tế, tham gia sâu vào hệ thống phân phối toàn cầu và giữ lại nhiều giá trị hơn trong nền kinh tế Việt Nam.
Việt Nam cần xây dựng nền tảng dữ liệu du lịch quốc gia theo hướng mở, có khả năng kết nối doanh nghiệp, điểm đến, cơ quan quản lý và khách hàng.
SME phải được tiếp cận dữ liệu về thị trường, xu hướng tiêu dùng, lịch sự kiện, nhu cầu khách và thông tin điểm đến để phát triển sản phẩm đúng nhu cầu.
Dữ liệu cần trở thành hạ tầng dùng chung, thay vì đặc quyền của một số doanh nghiệp lớn hoặc nền tảng xuyên biên giới.
Song song với đó là chính sách thị thực thuận lợi hơn đối với những thị trường có mức chi tiêu cao và thời gian lưu trú dài; cơ chế hỗ trợ mở đường bay, đường thủy và điểm đến mới; hoàn thuế giá trị gia tăng tại những trung tâm thương mại, khu du lịch và điểm mua sắm đủ điều kiện.
Mỗi thủ tục được đơn giản hóa cho du khách chính là một cánh cửa thị trường được mở thêm cho doanh nghiệp.
Nghị quyết xác định văn hóa là nền tảng cốt lõi; bản sắc và chất lượng trải nghiệm là lợi thế cạnh tranh. Đây là một lựa chọn chiến lược đúng đắn.
Việt Nam không thể cạnh tranh lâu dài bằng giá rẻ. Chúng ta phải cạnh tranh bằng những trải nghiệm không nơi nào có thể sao chép: văn hóa sông nước, di sản đô thị, làng nghề, ẩm thực vùng miền, nghệ thuật truyền thống, bảo tàng, tuyến đường sắt lịch sử và ký ức của cộng đồng.
Bảo tồn không có nghĩa là đặt di sản sau lớp kính rồi để nó ngủ yên. Di sản phải được nghiên cứu, kể lại và kết nối với đời sống đương đại bằng những phương thức sáng tạo, có trách nhiệm.
Cần phát triển các phòng thí nghiệm sản phẩm văn hóa - du lịch tại những vùng di sản, nơi nghệ nhân, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, kiến trúc sư, doanh nghiệp và cộng đồng cùng thiết kế trải nghiệm.
Nhà nước kiến tạo không gian và chuẩn mực. Doanh nghiệp tổ chức thị trường. Người dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng.
Một phần doanh thu từ vé, tour, biểu diễn và sản phẩm lưu niệm cần được tái đầu tư cho bảo tồn, đào tạo thế hệ kế nghiệp và cải thiện đời sống cộng đồng.
Du lịch chỉ bền vững khi người dân không đứng ngoài nhìn khách đi qua, mà trở thành người kể câu chuyện và được hưởng lợi từ chính quê hương mình.
Nếu tiếp tục đo thành công chủ yếu bằng số lượt khách, du lịch rất dễ quay lại con đường tăng trưởng theo chiều rộng.
Một điểm đến đông khách chưa chắc là một điểm đến giàu có, hạnh phúc và bền vững. Cần bổ sung những chỉ số mới: mức chi tiêu bình quân, thời gian lưu trú, tỷ lệ khách quay lại, doanh thu của SME, giá trị giữ lại trong kinh tế địa phương, số việc làm chất lượng, mức hài lòng của người dân và du khách, sức chịu tải của điểm đến, lượng phát thải và tỷ lệ doanh thu được tái đầu tư cho văn hóa, môi trường.
Không nên chỉ hỏi Việt Nam có thể đón bao nhiêu khách. Cần hỏi mỗi du khách để lại bao nhiêu giá trị cho đất nước và Việt Nam để lại điều gì đáng nhớ trong lòng họ.
Nghị quyết 26-NQ/TW đã mở đúng con đường. Việc cần làm bây giờ là chuyển tinh thần của Nghị quyết thành những chính sách khả thi, có thời hạn, có nguồn lực và có cơ chế đo lường.
Khi vốn được khơi thông, dữ liệu được chia sẻ, thị trường được mở rộng, doanh nghiệp được trao cơ hội và người dân thực sự được hưởng lợi, du lịch sẽ không còn chỉ là một ngành “giàu tiềm năng”. Du lịch sẽ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn đúng nghĩa: mang ngoại tệ về cho đất nước, đưa sản phẩm Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu và kết nối văn hóa Việt Nam với thế giới.
Chúng ta không xuất khẩu di sản. Chúng ta mời thế giới đến Việt Nam, trải nghiệm di sản và mang câu chuyện Việt Nam trở về.
--------------------------------
(*) Nhà sáng lập & CEO LuxGroup®, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Xanh Việt Nam