| Bài liên quan |
| Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh |
| Doanh nghiệp vật liệu xây dựng tăng tốc chuyển đổi xanh để giữ lợi thế cạnh tranh |
Từ các tham luận tại hội thảo “Áp lực CBAM, ESG và tiêu chuẩn xanh toàn cầu - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp khu công nghiệp” do Viện Công nghệ và Đổi mới sáng tạo doanh nghiệp thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Công ty Cổ phần Hai Bốn Bảy tổ chức, một vấn đề nổi lên là yêu cầu xanh đang dịch chuyển từ phạm vi tuân thủ môi trường sang tiêu chí cạnh tranh. Đối với doanh nghiệp khu công nghiệp, khả năng đo lường, quản trị và chứng minh mức độ giảm phát thải ngày càng có ý nghĩa trong việc duy trì khách hàng, tiếp cận thị trường và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Hoàng Quang Phòng cho rằng chuyển đổi xanh đang tác động trực tiếp đến khả năng tham gia chuỗi cung ứng và tiếp cận thị trường của doanh nghiệp. Khi các yêu cầu về phát thải, môi trường và quản trị ngày càng chặt chẽ, doanh nghiệp không chỉ phải giảm phát thải mà còn cần có năng lực đo lường, quản trị và chứng minh kết quả.
Đáng chú ý, dữ liệu được xem là một trong những “điểm nghẽn” lớn nhất. Nếu chưa kiểm kê đầy đủ phát thải, doanh nghiệp khó xác định chính xác hiện trạng, lựa chọn giải pháp phù hợp và chứng minh mức độ đáp ứng với đối tác.
![]() |
| Chuyển đổi xanh - “tấm vé” để doanh nghiệp khu công nghiệp giữ thị trường |
Ông Nguyễn Quang Huân, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Halcom Việt Nam, chỉ ra 4 khoảng trống trong thực hiện ESG: thiếu khung thể chế thống nhất; chưa có tiêu chí phù hợp với từng ngành; hệ thống đo lường, kiểm chứng và giám sát dữ liệu chưa đồng bộ; hệ sinh thái hỗ trợ về nhân lực, công nghệ, tư vấn và nguồn vốn còn hạn chế.
Theo đó, ESG cần được tích hợp vào chiến lược và hoạt động quản trị, thay vì chỉ được thực hiện để hoàn thiện hồ sơ hoặc đáp ứng yêu cầu ngắn hạn từ đối tác.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Hoàng Anh Dũng, Tổng Giám đốc Công ty Intraco, cho rằng kiểm kê khí nhà kính là bước khởi đầu để vừa đáp ứng yêu cầu tuân thủ, vừa quản trị carbon hiệu quả. Doanh nghiệp có thể bắt đầu bằng việc nâng cao hiệu quả vận hành và đào tạo nhân lực, sau đó xây dựng dấu chân carbon sản phẩm, chuyển đổi nhiên liệu và tiến tới các giải pháp giảm phát thải chuyên sâu, đổi mới công nghệ.
Một thay đổi quan trọng được đặt ra là doanh nghiệp không nên chờ đến khi thị trường hoặc đối tác đưa ra yêu cầu mới bắt đầu chuyển đổi.
Tiến sĩ Nguyễn Minh Thảo, Trưởng Ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, khuyến nghị doanh nghiệp thường xuyên cập nhật các chính sách xanh liên quan đến sản phẩm, chuẩn bị và hành động sớm, đồng thời nâng cao năng lực về vốn, công nghệ, kỹ thuật, nhân lực và quản trị.
Về dài hạn, yêu cầu không chỉ dừng ở một công đoạn sản xuất. Doanh nghiệp cần tính đến quản lý phát thải trong toàn bộ chuỗi, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm chất thải, phát triển năng lượng sạch, thúc đẩy cộng sinh công nghiệp và thực hiện báo cáo ESG.
Ở góc độ xúc tiến thương mại, ông Nguyễn Bá Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, đề xuất tăng cường thông tin, cảnh báo sớm cho doanh nghiệp; đào tạo năng lực thực hành; gắn xúc tiến xuất khẩu với thương hiệu xanh; kết nối doanh nghiệp với nguồn tài chính, công nghệ xanh và thúc đẩy hợp tác công - tư.
Như vậy, bài toán chuyển đổi xanh không chỉ nằm ở nội bộ từng doanh nghiệp mà còn đòi hỏi sự liên kết giữa doanh nghiệp, khu công nghiệp, cơ quan quản lý, tổ chức tài chính, đơn vị công nghệ và các đối tác trong chuỗi cung ứng.
![]() |
| Bài toán chuyển đổi xanh không chỉ nằm ở nội bộ từng doanh nghiệp mà còn đòi hỏi sự liên kết giữa doanh nghiệp, khu công nghiệp |
Chuyển đổi số được xác định là nền tảng để doanh nghiệp biến các yêu cầu về xanh thành hệ thống quản trị có thể đo lường.
Tiến sĩ Đào Đình Khả, chuyên gia tư vấn độc lập về chuyển đổi số và công nghệ thông tin, cho rằng dữ liệu CBAM cần được kết nối với dữ liệu sản xuất, năng lượng, nguyên liệu, mua hàng và tài chính. Khi dữ liệu được liên thông, doanh nghiệp không chỉ có khả năng tính toán phát thải mà còn có thể xác định các điểm gây lãng phí, tối ưu chi phí và theo dõi hiệu quả của từng giải pháp giảm phát thải.
Đối với lĩnh vực logistics, bà Phạm Thị Vân Anh, Giám đốc Kinh doanh miền Bắc, Công ty Cổ phần Hai Bốn Bảy, cho rằng chuyển đổi xanh cần được thực hiện xuyên suốt chuỗi cung ứng. Tối ưu tuyến vận chuyển, nâng cao hiệu suất phương tiện và số hóa dữ liệu phát thải là những hướng đi có thể giúp doanh nghiệp logistics đồng hành với các khu công nghiệp trong quá trình xanh hóa chuỗi cung ứng.
Cùng với dữ liệu và công nghệ, năng lượng tái tạo cũng là một cấu phần quan trọng. Ông Vũ Văn Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Công nghệ xanh Hùng Việt, nhận định điện mặt trời áp mái, hệ thống lưu trữ năng lượng và quản trị năng lượng thông minh đang ngày càng được doanh nghiệp công nghiệp quan tâm, hướng tới đồng thời mục tiêu ổn định nguồn điện, tối ưu chi phí và giảm phát thải.
Từ thực tiễn Khu công nghiệp DEEP C, bà Nguyễn Như Thanh Thư, Trưởng bộ phận Năng lượng tái tạo, cho biết doanh nghiệp có thể tiếp cận điện tái tạo theo các phương thức như tự sản xuất, tự tiêu thụ; mua bán điện trực tiếp qua đường dây riêng hoặc qua lưới điện quốc gia. Những cơ chế mới về điện tái tạo được kỳ vọng tạo thêm dư địa để khu công nghiệp đóng vai trò kết nối nhu cầu và nguồn cung điện xanh.
Từ những vấn đề đặt ra tại hội thảo, lộ trình chuyển đổi xanh đối với doanh nghiệp khu công nghiệp cần bắt đầu từ những việc có thể đo đếm: đánh giá hiện trạng, xác định yêu cầu thị trường, kiểm kê phát thải và chuẩn hóa dữ liệu. Trên nền tảng đó, doanh nghiệp lựa chọn các giải pháp ưu tiên về công nghệ, năng lượng, sản xuất và logistics, đồng thời thiết lập cơ chế theo dõi kết quả.
Điều quan trọng hơn, chuyển đổi xanh cần được đặt trong chiến lược cạnh tranh dài hạn. Khi các tiêu chuẩn môi trường ngày càng trở thành điều kiện của thương mại quốc tế, doanh nghiệp chủ động chuẩn hóa dữ liệu, giảm phát thải và minh bạch thông tin sẽ có lợi thế hơn trong việc giữ khách hàng, mở rộng thị trường và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.