Nhưng, trong cách thiết kế chính sách hiện nay, những mắt xích này vẫn thường được nhìn như những đơn vị riêng lẻ, thay vì một phần cấu thành của chuỗi giá trị nông sản. Đây là nghịch lý đáng suy nghĩ. Muốn nâng cấp nông nghiệp, Việt Nam nói nhiều đến doanh nghiệp đầu chuỗi, vùng nguyên liệu, hợp tác xã và chế biến sâu. Nhưng nếu những doanh nghiệp nhỏ nằm giữa cánh đồng và nhà máy lớn không được nâng cấp, chuỗi vẫn khó vận hành theo chuẩn mới.
Những mắt xích ít được nhìn thấy
Hãy nhìn vào một vùng trồng lúa. Đại lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có thể là nơi người nông dân tiếp cận vật tư, kỹ thuật và cả tín dụng thương mại dưới hình thức mua chịu, có nơi gọi là “bán lúa non”. Cơ sở xay xát quyết định một phần tỷ lệ hao hụt, chất lượng hạt gạo và khả năng phân loại. Người thu mua và doanh nghiệp vận tải giúp gom hàng, đưa nông sản từ những hộ sản xuất nhỏ đến những đơn hàng lớn.
Những doanh nghiệp này thường không có thương hiệu nổi tiếng. Quy mô vốn cũng nhỏ nhưng nếu thiếu họ, chuỗi cung ứng sẽ bị đứt ở những khâu rất cơ bản. Đặc biệt, trong nông nghiệp, sản xuất thường phân tán trong khi thị trường lại yêu cầu tập trung, đồng nhất và truy xuất được nguồn gốc. Doanh nghiệp nhỏ chính là lực lượng giúp nối hai đầu này.
Vấn đề là phần lớn doanh nghiệp nhỏ trong kinh doanh nông sản đang hoạt động theo phương thức truyền thống.
| Doanh nghiệp nhỏ giữ nhiều mắt xích quan trọng trong chuỗi nông sản nhưng khó tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường. Chính sách cần thay đổi. |
Một đại lý vật tư nông nghiệp có thể biết rất rõ từng hộ nông dân trong thôn, ấp, khu vực nhưng không có hệ thống dữ liệu. Một cơ sở xay xát có thể có hàng chục năm kinh nghiệm nhưng thiếu vốn để đầu tư công nghệ. Một doanh nghiệp thu mua có quan hệ rộng với nông dân cả xã, lan ra xã bạn nhưng khó tiếp cận tín dụng để mở rộng kho, máy sấy hoặc phương tiện vận chuyển.
Nói cách khác, chuỗi nông sản có nhiều mắt xích nhưng năng lực của các mắt xích chưa đồng đều.
Chính sách không thiếu, nhưng chưa chắc đã đến đúng chỗ
Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 không bỏ qua vấn đề này, đã dành riêng Điều 19 quy định về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, với các nội dung từ đào tạo, tư vấn tiêu chuẩn, chất lượng đến cung cấp thông tin, phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường và hỗ trợ tài chính.
Thậm chí điều 20 còn quy định Quỹ Phát triển DNNVV có chức năng cho vay, tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.
Nghị định 80/2021/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa nhiều chính sách hỗ trợ. Về nguyên tắc, đây là cách tiếp cận đúng: doanh nghiệp nhỏ không chỉ được hỗ trợ riêng lẻ mà còn được tạo điều kiện tham gia chuỗi và trở thành nhà cung cấp cho doanh nghiệp đầu chuỗi.
Nhưng có một khoảng cách đáng chú ý: chính sách thường nhìn doanh nghiệp nhỏ từ góc độ “đối tượng cần hỗ trợ”, trong khi chuỗi giá trị lại đòi hỏi nhìn họ như “mắt xích cần nâng cấp”. Hai cách tiếp cận này không hoàn toàn giống nhau.
Nếu một cơ sở xay xát được hỗ trợ một khóa đào tạo, điều đó chưa chắc giúp họ trở thành nhà cung cấp đạt chuẩn cho doanh nghiệp xuất khẩu. Nếu một đại lý thu mua cà phê, hạt tiêu được hỗ trợ chuyển đổi số nhưng dữ liệu vùng nguyên liệu không được liên thông với hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, hiệu quả cũng rất hạn chế.
Luật quy định hỗ trợ còn thị trường lại đòi hỏi năng lực. Đây chính là khoảng cách đáng lo
Câu chuyện hạt gạo và “vòng tròn khép kín”
Câu chuyện xuất khẩu gạo đang cho thấy một dạng bất cập khác: doanh nghiệp nhỏ không chỉ khó nâng cấp năng lực mà còn có thể khó tiếp cận ngay cả cơ hội thị trường để chứng minh năng lực.
Trong góp ý mới đây đối với dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định về kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu gạo, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng một số quy định về lựa chọn thương nhân đầu mối giao dịch và đầu mối luân phiên trong các hợp đồng tập trung có nguy cơ tạo lợi thế cho doanh nghiệp đã có thị phần. Điểm đáng chú ý nằm ở cách xác định tiêu chí.
Theo dự thảo, thành tích xuất khẩu trong hai năm gần nhất và mức độ tín nhiệm là những căn cứ quan trọng để lựa chọn thương nhân đầu mối. Trong khi đó, mức độ tín nhiệm lại được đánh giá chủ yếu từ kết quả hoạt động xuất khẩu.
Điều này tạo ra một vòng tròn khá khó phá vỡ. Nói nôm ba là điều kiện xuất khẩu gạo trong hàng chục năm dường như không có chỗ cho doanh nghiệp nhỏ, mà là các đại gia trong ngành nông sản.
Muốn được lựa chọn làm đầu mối, doanh nghiệp phải có thành tích xuất khẩu. Nhưng muốn có thành tích xuất khẩu tại những thị trường theo hợp đồng tập trung, doanh nghiệp lại cần được tiếp cận các hợp đồng đó thì phải là doanh nghiệp lớn.
Doanh nghiệp lớn đã có thị phần vì thế tiếp tục có lợi thế. Doanh nghiệp mới hoặc doanh nghiệp nhỏ dù đáp ứng điều kiện kinh doanh và đã xây dựng được vùng nguyên liệu vẫn khó có cơ hội tích lũy “thành tích ban đầu”.
Đây không chỉ là câu chuyện phân chia một hợp đồng xuất khẩu, nó liên quan trực tiếp đến khả năng hình thành một lớp doanh nghiệp mới trong ngành gạo.
Một doanh nghiệp nhỏ có thể rất giỏi xây dựng vùng nguyên liệu, liên kết với nông dân và tổ chức thu mua. Nhưng nếu không có cơ hội tiếp cận thị trường lớn, những năng lực đó khó chuyển thành quy mô kinh doanh.
Chuỗi giá trị vì thế có nguy cơ trở thành một cấu trúc mà phần đầu ra được kiểm soát bởi một nhóm doanh nghiệp lớn, trong khi hàng chục, hàng trăm doanh nghiệp nhỏ chỉ đảm nhận các công đoạn phía dưới.
| VCCI đề xuất dành khoảng 10-15% tổng lượng gạo trong các hợp đồng tập trung để đấu thầu công khai hoặc phân bổ riêng cho doanh nghiệp mới, doanh nghiệp nhỏ và vừa đã xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm. |
Đề xuất này đáng chú ý ở chỗ nó không đơn thuần là “ưu tiên doanh nghiệp nhỏ”. Nó nhằm tạo cơ hội để doanh nghiệp mới có thành tích ban đầu, từ đó phá vòng tròn khép kín của cơ chế dựa quá nhiều vào lịch sử xuất khẩu.
Nếu không có cơ chế mở cửa như vậy, yêu cầu “doanh nghiệp phải có thành tích” có thể vô tình biến thành điều kiện “doanh nghiệp đã lớn mới có thể tiếp tục lớn”.
Hỗ trợ theo hồ sơ hay theo chuỗi?
Đây cũng là vấn đề rộng hơn đối với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp vừa có bộ phận pháp chế, kế toán, nhân sự và khả năng lập hồ sơ sẽ khác xa một cơ sở xay xát vài chục lao động. Càng nhỏ, doanh nghiệp càng cần hỗ trợ nhưng cũng càng khó dành thời gian và nhân lực để tìm hiểu, chuẩn bị hồ sơ và chứng minh điều kiện.
Đây là nghịch lý phổ biến của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp: người cần hỗ trợ nhất đôi khi lại là người khó tiếp cận chính sách nhất.
Vì vậy, nếu chỉ thiết kế chính sách theo cách doanh nghiệp tự tìm đến Nhà nước để xin hỗ trợ, khả năng bỏ sót những mắt xích nhỏ là rất lớn.
Chính sách nên đi theo chuỗi. Một doanh nghiệp đầu chuỗi có thể xác định rõ nhà cung cấp nào cần nâng cấp máy móc, tiêu chuẩn nào cần đáp ứng, dữ liệu nào cần số hóa. Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí và kết nối nguồn lực để các doanh nghiệp nhỏ đạt được những yêu cầu đó. Khi ấy, hiệu quả chính sách có thể đo được bằng kết quả thực tế.
Đã có ai, cơ quan nào thống kê có bao nhiêu cơ sở xay xát đạt chuẩn? Bao nhiêu doanh nghiệp nhỏ trở thành nhà cung cấp cho doanh nghiệp đầu chuỗi? Bao nhiêu doanh nghiệp tham gia được vào vùng nguyên liệu? Bao nhiêu hợp đồng mới được ký? Bao nhiêu doanh nghiệp lần đầu xuất khẩu thành công?
Những con số này có ý nghĩa hơn rất nhiều so với số lượng lớp đào tạo hay số hồ sơ hỗ trợ được giải quyết mà lâu nay ta thường thấy.
Luật sửa đổi cần nhìn xuống tận cánh đồng
Năm 2026 là thời điểm thích hợp để đặt lại câu hỏi này khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được sửa đổi. Vấn đề không phải chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ có nhiều hay ít. Vấn đề là chính sách có giúp doanh nghiệp nâng được năng lực cạnh tranh hay không.
Đặc biệt, cần tránh một cách tiếp cận vô tình củng cố lợi thế lịch sử, như trong xuất khẩu gạo, luôn ưu ái doanh nghiệp lớn, có thành tích xuất khẩu. Trong nhiều ngành hàng, thành tích quá khứ là một chỉ báo hợp lý về năng lực, nhưng nếu dùng nó như điều kiện quá cứng để tiếp cận thị trường, chính sách có thể tạo ra rào cản gia nhập.
![]() |
| Sầu riêng, thanh long và nhiều nông sản khác của Lâm Đồng ngày càng tham gia sâu vào hoạt động xuất khẩu, mã số vùng trồng trở thành một phần quan trọng trong chuỗi kiểm soát từ sản xuất đến thị trường. |
Doanh nghiệp lớn có thị phần sẽ tiếp tục có thị phần. Doanh nghiệp nhỏ không có cơ hội bước vào thì không bao giờ có lịch sử để chứng minh mình đủ năng lực.
Chuỗi nông sản cũng vậy. Không thể có chuỗi hiện đại nếu những mắt xích nhỏ nhất vẫn vận hành theo cách cũ. Nhưng cũng không thể yêu cầu họ tự nâng cấp nếu chính sách, tín dụng và thị trường không tạo ra đủ động lực.
Đại lý phân bón, cơ sở xay xát, doanh nghiệp thu mua, kho vận hay cơ sở sơ chế không phải phần phụ của chuỗi nông sản, họ chính là phần nền.
Vì vậy, câu chuyện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ không nên dừng ở việc “cho doanh nghiệp cái gì”. Câu hỏi quan trọng hơn là Nhà nước giúp họ trở thành mắt xích tốt hơn trong chuỗi như thế nào.
Nếu làm được điều đó, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ sẽ không còn là một chính sách phân bổ nguồn lực, mà trở thành chính sách nâng năng suất của cả chuỗi nông sản, và rộng hơn là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.