Ở kỳ 1, câu chuyện nhận diện CSHHL được đặt ra từ những tiêu chí về tỷ lệ sở hữu, quyền kiểm soát thực tế đến trường hợp “người có liên quan”. Nhưng trong thực tế, người thực sự hưởng lợi hoặc kiểm soát doanh nghiệp không phải lúc nào cũng xuất hiện công khai trên hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hay trong quá trình mà doanh nghiệp hoạt động.
Vậy những “bức bình phong” được hình thành như thế nào, doanh nghiệp phải làm gì khi không thể xác định ngay người hưởng lợi cuối cùng và trách nhiệm của doanh nghiệp được đặt ở đâu?
Những vấn đề này được Luật sư Nguyễn Sơn Tùng, Chủ tịch Công ty Luật TNHH Legal United Law, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại Sài Gòn (SCAC) tiếp tục phân tích rõ hơn trong cuộc trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập.
![]() |
| Luật sư Nguyễn Sơn Tùng, Chủ tịch Công ty Luật TNHH Legal United Law, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại Sài Gòn. |
Thưa Luật sư, có thực trạng doanh nghiệp hoặc CSHHL cố tình tạo ra những “bức bình phong” nhằm che giấu sự tồn tại của CSHHL trước pháp luật? Vì sao lại có tình trạng này?
Luật sư (LS) Nguyễn Sơn Tùng: Có nhiều nguyên nhân. Theo quan sát của tôi, tại một số tổ chức kinh tế, tập đoàn quy mô lớn hoặc doanh nghiệp gia đình có quá trình kế thừa qua nhiều thế hệ, có thể xuất hiện những cơ chế riêng nhằm che giấu CSHHL.
Trong những trường hợp này, người giữ các chức danh như Tổng giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng Thành viên có thể không phải là người thực sự nắm quyền quyết định. Quyền kiểm soát trên thực tế lại thuộc về một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân không giữ bất kỳ chức danh công khai nào tại doanh nghiệp.
Theo tôi, một số mục đích thường được đặt ra là che giấu hoặc tránh xung đột lợi ích; né tránh trách nhiệm pháp lý, tài chính; hạn chế các rủi ro pháp lý trong đầu tư, giao dịch, quản lý tài sản; hoặc che giấu những dấu hiệu liên quan đến trốn thuế, rửa tiền, hợp thức hóa tài sản bất hợp pháp.
Để tránh bị nhận diện, những người này có thể sử dụng nhiều lớp pháp nhân hoặc người đại diện thay thế. Khi đó, người thực sự hưởng lợi hoặc kiểm soát doanh nghiệp bị che khuất phía sau một chuỗi sở hữu và quan hệ pháp lý phức tạp.
Không chỉ đối diện với các chế tài của pháp luật Việt Nam, trong một số trường hợp, họ còn có thể chịu sự điều chỉnh của các quy định và cơ chế pháp lý quốc tế. Đây cũng là một trong những lý do khiến việc tạo ra các “bức bình phong” để che giấu sự hiện diện của CSHHL có thể xuất hiện công khai trên hồ sơ pháp lý thực tế của doanh nghiệp.
Với doanh nghiệp có nhiều tầng sở hữu, đặc biệt là doanh nghiệp FDI hoặc tập đoàn có cấu trúc cổ đông phức tạp, việc xác định cá nhân hưởng lợi cuối cùng có khả thi không, thưa ông?
Việc xác định chính xác CSHHL cuối cùng, nhất là tại doanh nghiệp có nhiều tầng sở hữu hoặc doanh nghiệp FDI, chưa bao giờ là việc dễ dàng. Bởi chỉ khi có xác định được đúng thì việc kê khai, công bố thông tin của doanh nghiệp mới có thể đầy đủ, chính xác.
Phải nhìn nhận rằng, việc xác định và kê khai CSHHL tại Việt Nam hiện vẫn là vấn đề tương đối mới. Đối với doanh nghiệp mới thành lập, cũng như doanh nghiệp đang hoạt động có thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh hoặc phát sinh trường hợp phải kê khai CSHHL, quy trình này vẫn đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện.
Hiện nay, quản lý nhà nước đối với việc kê khai CSHHL chủ yếu dựa trên cơ chế doanh nghiệp tự xác định, tự kê khai và tự chịu trách nhiệm nhằm cập nhật và minh bạch hóa thông tin về CSHHL nhằm đồng bộ hóa với cơ sở dữ liệu quốc gia. Mặc dù tại Việt Nam, hiện đang trong giai đoạn siết chặt toàn diện về quản lý CSHHL nhưng chưa có cơ chế yêu cầu chính cá nhân là CSHHL phải trực tiếp thực hiện việc kê khai như cách tiếp cận được áp dụng tại một số quốc gia.
| Có hiệu lực từ ngày 23/7/2026, Nghị định 296/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 168/2025/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, đáng chú ý là quy định lại cách xác định chủ sở hữu hưởng lợi và trình tự kê khai, thông báo thông tin tại Điều 17, Điều 18, đặt ra yêu cầu rõ hơn đối với doanh nghiệp trong việc nhận diện người thực sự sở hữu, kiểm soát doanh nghiệp. |
Việc chỉ yêu cầu doanh nghiệp kê khai CSHHL cuối cùng hay UBO (người hưởng lợi cuối cùng - Ultimate Beneficial Owner) cũng đặt thêm áp lực lên doanh nghiệp, nhất là trong trường hợp UBO cố tình tạo ra các “bức bình phong” hoặc không cung cấp đầy đủ thông tin để doanh nghiệp xác định và kê khai.
Theo tôi, việc xác định CSHHL cuối cùng cần có sự phối hợp giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Bởi mục tiêu của việc xác định, kê khai CSHHL không chỉ dừng ở thủ tục đăng ký doanh nghiệp mà còn liên quan đến minh bạch trong hoạt động kinh doanh, phòng chống rửa tiền, phòng chống tội phạm và các hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
Trong một số trường hợp đặc biệt, để xác định chính xác một hoặc một số CSHHL cuối cùng, có thể cần đến sự tham gia của cơ quan có thẩm quyền thay vì chỉ dựa vào việc kê khai của doanh nghiệp.
Về đăng ký, kê khai chủ sở hưởng lợi, pháp luật hiện hành của Việt Nam có khác biệt gì so với các nước không, thưa ông?
Nhìn chung tại các nước phát triển, tôi lấy ví dụ là ở Hoa Kỳ, các quy định pháp luật của họ về CSHHL được quy định chặc chẽ nhằm kiểm soát, quản lý về CSHHL minh bạch hơn ở Việt Nam chúng ta. Ở Hoa Kỳ, họ có hẵng một đạo luật quy định chính và riêng cho nhóm chủ thể là CSHHL này đấy là đạo luật Corporate Transparency Act – CTA (Đạo luật Minh bạch doanh nghiệp). Và nếu chỉ so sánh về mặt tiêu chí trong hai nhóm tiêu chí về Sở hữu hoặc kiểm soát từ 25% lợi ích được sở hữu trở lên và Thực thi quyền kiểm soát đáng kể (Substantial Control) trong xác định CSHHL thì các quy định hiện hành của Việt Nam cũng gần tương đồng đối với các tiêu chí của Hoa Kỳ.
Tại Hoa Kỳ, trong tiêu chí về xác định CSHHL thông qua quyền sở hữu, họ xác định phạm vi rộng hơn là người nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp từ 25% quyền lợi sở hữu trở lên thay vì là 25% vốn điều lệ trở lên như quy định của pháp luật Việt Nam.
![]() |
| Tất cả các doanh nghiệp thành lập và hoạt động tại Việt Nam, khi có dấu hiệu của tiêu chí về CSHHL thì phải đăng ký và khai báo. Ảnh minh họa |
Trong khi pháp luật chúng ta, tất cả các doanh nghiệp thành lập và hoạt động tại Việt Nam, khi có dấu hiệu của tiêu chí về CSHHL thì phải đăng ký và khai báo. Theo pháp luật Hoa Kỳ hiện hành, đối với doanh nghiệp nội địa do người có quốc tịch Mỹ thành lập hay sở hữu 100% vốn điều lệ, hiện Hoa Kỳ đã miễn trừ, không yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ khai báo về thông tin CSHHL và Hoa Kỳ họ chỉ duy trì nghĩa vụ bắt buộc này đối với các doanh nghiệp FDI hay cho hoạt động nhà thầu nước ngoài tại Hoa Kỳ.
Tại Hoa Kỳ, hiện nay trong quản lý các CSHHL, họ đã chuyển từ cơ chế, giai đoạn siết chặt toàn diện sang cơ chế sàng lọc có trọng tâm.
Trong trường hợp doanh nghiệp không thể tự xác định chính xác cá nhân có quyền kiểm soát cuối cùng, trách nhiệm của doanh nghiệp được xác định như thế nào? Doanh nghiệp có phải tự lần theo toàn bộ chuỗi sở hữu để tìm người hưởng lợi cuối cùng?
Theo quy định hiện hành, người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm kê khai, thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thông tin về CSHHL. Với doanh nghiệp thành lập mới, việc kê khai được thực hiện ngay khi đăng ký thành lập. Với doanh nghiệp đang hoạt động, việc cập nhật, bổ sung thông tin về CSHHL được thực hiện đồng thời với thủ tục thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cũng phải lưu giữ hồ sơ và danh sách CSHHL đầy đủ tại trụ sở chính. Người đại diện theo pháp luật có trách nhiệm kiểm tra, rà soát và xác định trung thực tại từng cấp trong cơ cấu sở hữu vốn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty để tìm ra cá nhân sở hữu hoặc kiểm soát thực tế cuối cùng. Người đại diện theo pháp luật cũng phải trực tiếp ký vào danh sách, biểu mẫu kê khai thông tin CSHHL.
Doanh nghiệp cần lần theo chuỗi sở hữu để xác định người hưởng lợi cuối cùng, nhưng điều đó không có nghĩa doanh nghiệp phải thực hiện những việc không có cơ sở hoặc vượt quá khả năng tiếp cận thông tin của mình. Doanh nghiệp có thể áp dụng nguyên tắc kê khai trung thực những thông tin đã xác minh, tìm hiểu được hoặc biết được tại thời điểm thực hiện kê khai.
Về thủ tục, việc kê khai CSHHL nhìn chung không làm tăng đáng kể chi phí tuân thủ của doanh nghiệp. Hiện đã có biểu mẫu, hướng dẫn và doanh nghiệp có thể thực hiện nộp đơn, hồ sơ kê khai trực tuyến.
Tuy nhiên, với một số trường hợp đặc biệt như doanh nghiệp FDI hoặc doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu, sở hữu chéo phức tạp, phần việc khó khăn lại nằm ở quá trình truy vết, tìm hiểu và xác minh CSHHL. Khi đó, doanh nghiệp có thể phải tự thực hiện hoặc thuê đơn vị tư vấn để rà soát toàn bộ chuỗi sở hữu nhằm có thể xác định được người hưởng lợi cuối cùng.
Trong thực tế áp dụng pháp luật, việc xác định CSHHL có phải lúc nào cũng có thể dựa trên hồ sơ doanh nghiệp và dữ liệu đăng ký kinh doanh?
Trên thực tế áp dụng pháp luật tại Việt Nam, có những trường hợp việc xác định vai trò, quyền và nghĩa vụ của CSHHL hoặc UBO, tức xác định ai là người thực sự sở hữu, có quyền điều hành và trực tiếp ra quyết định cuối cùng tại doanh nghiệp, cần phải thông qua quá trình xác định, công nhận hay yêu cầu công nhận hoặc giải quyết tranh chấp tại tòa án hay tổ chức trọng tài thương mại.
Có những trường hợp CSHHL, vì không đứng tên công khai trên các hồ sơ, tài liệu pháp lý của doanh nghiệp do nhờ người đứng tên hộ và khi có phát sinh về quyền sở hữu cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp nên đã khởi kiện yêu cầu tòa án công nhận mình mới thật sự là CSHHL.
Điều này cho thấy việc xác định CSHHL trong những trường hợp phức tạp không đơn thuần là việc đối chiếu thông tin trên hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Khi quyền kiểm soát thực tế bị che khuất qua nhiều tầng sở hữu hoặc quan hệ pháp lý, việc xác định người đứng sau doanh nghiệp có thể đòi hỏi quá trình xác minh sâu hơn.
Thưa ông, việc xác định CSHHL được xem là có tầm quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp. Vậy tại sao doanh nghiệp cần xác định và kê khai đầy đủ thông tin này?
Tôi cho rằng, việc xác định chính xác và kê khai đầy đủ CSHHL, ngoài yêu cầu tuân thủ pháp luật, còn mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp.
Thứ nhất, minh bạch trong quản trị doanh nghiệp. Việc nhận diện CSHHL giúp hạn chế tình trạng sở hữu “ẩn”, đồng thời góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông trong doanh nghiệp.
Thứ hai, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư. Khi biết ai là người thực sự kiểm soát doanh nghiệp, nhà đầu tư có thêm cơ sở để đánh giá trước khi quyết định đầu tư, qua đó hạn chế những trường hợp đầu tư thông qua người khác hoặc cơ cấu sở hữu không minh bạch.
Thứ ba, phòng ngừa rủi ro pháp lý. Việc xác định rõ CSHHL có thể góp phần hạn chế tranh chấp nội bộ, cũng như những hành vi gian lận hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần, phần vốn góp không minh bạch.
Đối với chính CSHHL, việc được xác định và đăng ký rõ ràng cũng có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền và tài sản của họ tại doanh nghiệp. Ngược lại, những CSHHL cố tình ẩn danh hoặc che giấu vai trò thực sự có thể đối mặt với rủi ro khi xảy ra tranh chấp.
Trong thực tế, có những trường hợp CSHHL không thể chứng minh được mình là người thực sự sở hữu hoặc kiểm soát doanh nghiệp, từ đó gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền đối với tài sản có giá trị mà mình thực tế đã bỏ vốn hoặc hưởng lợi.
Minh bạch CSHHL, vì vậy, không chỉ là yêu cầu đối với cơ quan quản lý hay nghĩa vụ kê khai của doanh nghiệp, mà còn là vấn đề gắn với quyền lợi của cổ đông, nhà đầu tư và với chính những người hưởng lợi cuối cùng.
Trân trọng cám ơn Luật sư đã chia sẻ!