Sụt lún và ngập lụt TP. Hồ Chí Minh không còn là hai câu chuyện tách rời, khi nền đất thấp dần, mưa lớn diễn biến khó lường, triều cường và nước biển dâng cùng tác động, những điểm ngập trong thành phố cần được nhìn từ cách quy hoạch, xây dựng và vận hành đô thị.
![]() |
| Các chuyên gia phân tích mối liên hệ giữa sụt lún, ngập lụt và quá trình đô thị hóa tại TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Châu Anh |
Tại Hội thảo khoa học “Sụt lún và ngập lụt tại TP. Hồ Chí Minh và các giải pháp thích ứng” sáng 29/9, các nhà khoa học đặt vấn đề ngập lụt trong mối quan hệ với nhiều yếu tố đang diễn ra đồng thời: Sụt lún mặt đất, mưa cực đoan, triều cường, nước biển dâng, suy giảm mực nước ngầm và tốc độ đô thị hóa… Điều đáng lưu ý là những yếu tố này không đứng riêng rẽ.
Một nền đất đã thấp lại tiếp tục hạ thấp thì cùng một lượng nước, khả năng thoát nước cũng thay đổi. Khi mưa lớn gặp triều cao, nước càng khó thoát. Nếu các ao hồ, kênh rạch bị thu hẹp hoặc san lấp, nơi chứa nước tự nhiên của đô thị tiếp tục giảm, áp lực lại dồn lên hệ thống cống.
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Lê Trung Chơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Bền vững, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, cùng các chuyên gia cho rằng cần nhìn nhận các nguy cơ này trong cùng một bài toán.
Đây là điều có ý nghĩa với một thành phố đang phát triển nhanh như TP.HCM. Bởi nếu chỉ thấy nước ngập trên mặt đường rồi tìm cách tháo nước, chúng ta mới xử lý phần biểu hiện. Câu hỏi quan trọng hơn là tại sao nước lại khó thoát, vì sao có nơi ngập nhiều, có nơi ít ngập, và những quyết định về quy hoạch trước đây đã tác động thế nào đến khả năng tiêu thoát nước hôm nay.
Không thể đợi ngập rồi mới xử lý
Một trong những vấn đề được các nhà khoa học nhấn mạnh là cách tiếp cận với ngập lụt cần thay đổi. Thay vì chờ nước dâng rồi mới xử lý, thành phố cần theo dõi thường xuyên diễn biến mặt đất, lượng mưa, mực nước và triều để nhận biết nguy cơ sớm hơn. Nghe có vẻ là câu chuyện của công nghệ, nhưng thực chất đây trước hết là câu chuyện về cách quản lý.
Bởi lẽ, vệ tinh có thể cung cấp những hình ảnh rộng và liên tục, dữ liệu quan trắc cho biết mặt đất đang biến đổi ra sao, nước đang ở mức nào. Các mô hình tính toán sau đó giúp xác định khu vực có nguy cơ cao. Từ những thông tin ấy, cơ quan quản lý có thể đưa ra cảnh báo và chủ động xử lý trước khi tình trạng ngập trở nên nghiêm trọng. Chuỗi công việc từ vệ tinh, dữ liệu, dự báo đến cảnh báo và quyết định quản lý chỉ có giá trị khi kết quả cuối cùng đến được với người cần sử dụng.
Một bản đồ nguy cơ ngập sẽ không giúp ích nhiều nếu không được dùng để điều chỉnh giao thông, vận hành cống, kiểm soát những khu vực xung yếu hoặc thông tin kịp thời cho người dân. Nói cách khác, thành phố cần biết trước nguy cơ để có thời gian chuẩn bị, thay vì chỉ ghi nhận thiệt hại sau mỗi trận mưa lớn.
Một câu hỏi được đặt ra tại hội thảo đáng để TP. Hồ Chí Minh suy nghĩ: nếu cùng nằm trong khu vực có địa hình thấp, vì sao Khu đô thị Phú Mỹ Hưng không chịu cảnh ngập giống nhiều khu vực khác?
Theo TS. Thiềm Quốc Tuấn - Trưởng Khoa Địa chất và Khoáng sản, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, khả năng chống ngập của Phú Mỹ Hưng đến từ nhiều yếu tố được tính toán đồng bộ ngay từ quy hoạch. Nền đô thị được tôn cao khoảng 2m so với mức triều cường lịch sử; tỷ lệ xây dựng dưới 30%; diện tích cây xanh, hồ điều hòa lớn; hệ thống kênh rạch và dòng chảy tự nhiên được duy trì, hạn chế san lấp ao hồ.
Nhờ đó, nước có chỗ để chứa và đường để thoát, giảm dòng chảy mặt và áp lực lên hệ thống cống so với những khu vực bị bê tông hóa cao. Bên cạnh đó, hệ thống thoát nước được hỗ trợ bởi bề mặt, khe thấm nước trên vỉa hè, cống và van một chiều, kết hợp khơi thông, xử lý rác và bảo trì định kỳ.
Từ trường hợp Phú Mỹ Hưng có thể thấy, chống ngập bền vững phải bắt đầu từ quy hoạch đô thị, không phải từ máy bơm. Từ xác lập cao độ nền, kiểm soát mật độ xây dựng đến dành không gian trữ nước, duy trì đường thoát và bảo đảm cửa xả. Nói cách khác, khả năng chống ngập phải được tính toán ngay từ những viên gạch đầu tiên của khu đô thị.
Bài học từ Phú Mỹ Hưng không có nghĩa là mọi khu vực của thành phố đều có thể áp dụng nguyên một mô hình. Điều kiện địa hình, dân cư, hiện trạng xây dựng và hệ thống hạ tầng mỗi nơi khác nhau, nhưng có một nguyên tắc rất rõ: quy hoạch đô thị phải tính đến đường đi của nước. Nếu kênh rạch bị thu hẹp, ao hồ bị san lấp, diện tích thấm nước giảm, mật độ xây dựng tăng, nước mưa sẽ ngày càng ít nơi để lưu giữ và tiêu thoát.
Khi nền đất tiếp tục sụt lún, những bất lợi ấy càng bộc lộ rõ, vì vậy bên cạnh việc đầu tư các công trình chống ngập, thành phố cần xem xét nghiêm túc việc bảo vệ những không gian vốn có chức năng chứa và dẫn nước. Đó có thể là một con kênh, một hồ điều hòa, một khoảng cây xanh hay đơn giản là phần đất không bị phủ kín bởi bê tông.
Trong một đô thị đông dân, những khoảng không tưởng như chưa được khai thác hết về mặt xây dựng lại có thể là phần hạ tầng tự nhiên rất quan trọng khi mưa lớn xảy ra. Đây cũng là nơi cần nhìn lại quan niệm về phát triển đô thị. Thêm một công trình không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với một thành phố tốt hơn nếu công trình đó làm mất đi khả năng tự điều tiết nước của khu vực.
Sụt lún và ngập lụt TP. Hồ Chí Minh vì thế cần được xem xét trong cùng một bài toán. Thành phố cần biết nền đất đang thay đổi thế nào, nước đang đi đâu, những khu vực nào dễ tổn thương và khi mưa lớn kết hợp triều cường thì điều gì có thể xảy ra. Nhưng dữ liệu chỉ là công cụ, mà điều quan trọng hơn vẫn là cách sử dụng dữ liệu trong quy hoạch và điều hành.
Nếu cảnh báo đến sớm, lực lượng chức năng có thể chủ động xử lý điểm nghẽn giao thông, vận hành hệ thống thoát nước, kiểm tra những vị trí xung yếu. Nếu quy hoạch giữ được không gian cho nước, thành phố sẽ bớt phụ thuộc vào việc chống đỡ sau khi ngập.
Nhìn từ câu chuyện Phú Mỹ Hưng, một bài học khá rõ được đặt ra: Muốn giảm ngập, không thể chỉ nghĩ đến việc đưa nước ra khỏi thành phố. Việc quan trọng là phải tính đến việc giữ nước ở đâu, dẫn nước qua đâu và đô thị có thể chịu được bao nhiêu nước trong từng điều kiện. Đó cũng là cách nhìn cần thiết khi thành phố đứng trước những thay đổi ngày càng rõ của khí hậu và nền đất.
TP. Hồ Chí Minh vẫn cần những công trình chống ngập, nhưng công trình sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu quy hoạch tiếp tục làm mất không gian thoát nước, nếu việc bảo trì bị xem nhẹ và nếu cảnh báo chỉ xuất hiện khi nước đã dâng. Chủ động trước ngập, xét đến cùng, không phải là tìm cách thắng nước. Đó là hiểu nước, dành cho nước một lối đi và tổ chức thành phố sao cho mỗi trận mưa lớn không trở thành một cuộc chạy đua xử lý hậu quả.