Thứ bảy 26/09/2026 15:54
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Đánh thuế bao bì khó tái chế, cần lộ trình phù hợp cho doanh nghiệp

Đề xuất đánh thuế môi trường với bao bì khó tái chế đang mở ra một hướng tiếp cận mới trong sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường. Thế nhưng, nếu thiếu hạ tầng tái chế và lộ trình phù hợp thì sắc thuế này có thể biến thành gánh nặng chi phí hơn là động lực chuyển đổi xanh.

Trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020, một đề xuất đáng chú ý đang được đưa ra là áp thuế môi trường trực tiếp với các loại bao bì khó tái chế hoặc gần như không có giá trị tái chế thương mại.

Đây không chỉ là thay đổi kỹ thuật trong quản lý rác thải, mà phản ánh sự dịch chuyển trong tư duy điều tiết, từ “khuyến khích trách nhiệm” sang dùng công cụ kinh tế để thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng.

Về lý thuyết, đây là hướng đi phù hợp với xu thế quốc tế, những loại bao bì rẻ, tiện dụng như nhựa mềm, bao bì đa lớp hay màng ghép phức hợp thường cũng là những loại gây áp lực môi trường lớn nhất.

Doanh nghiệp được hưởng lợi từ chi phí vật liệu thấp, còn xã hội phải trả chi phí xử lý rác, ô nhiễm và suy giảm chất lượng môi trường. Các địa phương phải chi ngân sách cho thu gom và chôn lấp rác. Quỹ đất cho bãi rác ngày càng thu hẹp trong khi lượng rác nhựa tiếp tục tăng. Người dân lại đối mặt với ô nhiễm không khí, nước và vi nhựa. Đó cũng là lý do cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường 2020.

Với cơ chế này, doanh nghiệp phải tự tái chế hoặc đóng góp tài chính cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ xử lý chất thải.

cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường 2020
Cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường 2020 dường như chưa đủ nếu so với bao bì khó tái chế. Đồ họa: AI

Theo Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam(**), năm 2025 có 286 doanh nghiệp đóng góp hỗ trợ tái chế với tổng số tiền 434 tỉ đồng, cùng 66 doanh nghiệp đóng góp hơn 223 tỉ đồng cho xử lý chất thải. Tuy nhiên, sau vài năm triển khai, EPR đang bộc lộ giới hạn.

Nhiều loại bao bì hiện gần như không có giá trị tái chế thương mại. Chi phí thu gom và xử lý cao hơn giá trị vật liệu thu hồi khiến thị trường tái chế khó vận hành theo cơ chế thị trường, phải phụ thuộc vào hỗ trợ tài chính.

Nói cách khác, EPR chủ yếu xử lý “phần ngọn”, tức rác sau khi phát sinh, thay vì tác động trực tiếp đến thiết kế sản phẩm từ đầu vào. Đề xuất đánh thuế bao bì khó tái chế vì thế được xem là bước dịch chuyển tiếp theo.

Nếu bao bì càng khó tái chế thì thuế càng cao, doanh nghiệp sẽ có động lực đổi vật liệu, tăng hàm lượng nhựa tái chế hoặc thay đổi cấu trúc bao bì để giảm chi phí thuế.

Mục tiêu cuối cùng của thuế môi trường không phải tăng thu ngân sách, mà là thay đổi hành vi thị trường, nhưng khoảng cách từ lý thuyết đến thực tế vẫn còn khá xa.

Rào cản đầu tiên là xác định thế nào là “bao bì khó tái chế”. Một loại vật liệu hiện chưa tái chế hiệu quả có thể trở nên khả thi chỉ sau vài năm nếu công nghệ thay đổi. Nếu đánh thuế quá rộng hoặc quá sớm, chính sách có thể vô tình cản trở đổi mới công nghệ và làm méo mó thị trường vật liệu.

Thứ hai là nguy cơ “thuế chồng thuế”. Hiện doanh nghiệp đã phải gánh nhiều chi phí liên quan tới môi trường như EPR, phí thu gom rác, đầu tư chuyển đổi xanh, kiểm kê phát thải carbon hay tiêu chuẩn bao bì xuất khẩu. Áp lực lớn nhất sẽ dồn vào các ngành hàng tiêu dùng nhanh, thực phẩm, đồ uống và bán lẻ, những lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào bao bì nhựa mềm để kéo dài thời hạn sử dụng sản phẩm.

Quan trọng hơn, doanh nghiệp chưa chắc là người chịu thuế cuối cùng. Phần lớn chi phí nhiều khả năng sẽ được chuyển vào giá bán hàng hóa và người tiêu dùng sẽ là bên gánh chịu. Điều này đặc biệt nhạy cảm trong bối cảnh sức mua nội địa còn yếu.

Nếu giá thực phẩm, sữa, đồ uống hay hàng tiêu dùng thiết yếu tăng lên do áp lực thuế môi trường, phản ứng xã hội là điều có thể dự báo trước. Lúc đó, thuế môi trường dễ biến thành “thuế chi phí”, thay vì động lực đổi mới.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy thuế chỉ hiệu quả khi đi cùng cả một hệ sinh thái hỗ trợ. Liên minh châu Âu từ năm 2021 áp dụng mức đóng góp khoảng 0,8 euro/kg nhựa không tái chế. Vương quốc Anh đánh thuế với bao bì có dưới 30% nhựa tái chế. Hàn Quốc phân loại phí EPR theo độ dễ tái chế của vật liệu.

Thế nhưng, các quốc gia này không chỉ đánh thuế. Đi cùng là hệ thống phân loại rác tại nguồn, công nghệ tái chế hiện đại, tiêu chuẩn vật liệu rõ ràng, tín dụng xanh và thị trường tiêu thụ vật liệu tái chế.

Trong khi đó, điểm yếu lớn nhất của Việt Nam hiện nay không nằm ở thiếu chính sách, mà ở hạ tầng thực thi. Mỗi năm Việt Nam phát sinh gần 3 triệu tấn chất thải nhựa nhưng hệ thống phân loại rác tại nguồn còn yếu, công nghệ tái chế chủ yếu quy mô nhỏ, giá trị thấp và thị trường nguyên liệu tái chế chưa phát triển đầy đủ.

Nếu áp thuế quá nhanh, áp lực chi phí có thể tăng nhanh hơn năng lực chuyển đổi của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải trả thêm tiền nhưng lượng rác nhựa thực tế chưa chắc giảm đáng kể.

Dù có đánh thuế hay không, doanh nghiệp Việt rồi cũng phải thay đổi. EU và nhiều thị trường xuất khẩu đang siết rất nhanh các tiêu chuẩn về bao bì, phát thải và vòng đời sản phẩm. Vấn đề là chuyển đổi theo cách nào để vừa giảm áp lực môi trường, vừa không tạo thêm cú sốc chi phí cho nền kinh tế.

-----------------------

(*)Giảng viên Khoa Kinh tế Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị Khu vực II

(**)https://www.vepf.vn/vi/tinh-hinh-tiep-nhan-va-su-dung-tien-dong-gop-tai-chinh-ho-tro-tai-che-va-xu-ly-chat-thai-nam-2025-vepfg2663j.html

Tin bài khác
Muốn du lịch cất cánh, hãy dọn tổ cho cả đàn chim

Muốn du lịch cất cánh, hãy dọn tổ cho cả đàn chim

Muốn đàn chim Việt bay xa, không thể chỉ chăm sóc một vài "con sếu đầu đàn", mà phải dọn sạch chiếc tổ chung, mở rộng bầu trời và trao cơ hội cho mọi cánh chim có năng lực.
Bỏ độc quyền vàng miếng: Nhà nước từ người chơi thành trọng tài

Bỏ độc quyền vàng miếng: Nhà nước từ người chơi thành trọng tài

Bỏ độc quyền vàng miếng mở ra chương mới cho thị trường vàng Việt Nam. Nhà nước chuyển từ người chơi duy nhất sang trọng tài, nhưng trách nhiệm quản lý và bình ổn thị trường vẫn rất lớn.
Đừng để chỉ dẫn địa lý thành “tem trang trí”

Đừng để chỉ dẫn địa lý thành “tem trang trí”

Mật ong bạc hà Mèo Vạc được khai thác từ nguồn hoa bạc hà dại mọc trên vùng núi đá cao của Hà Giang (cũ). Sản phẩm có màu vàng xanh đặc trưng, vị ngọt dịu và mùi thơm dễ chịu. Để làm ra mật ong này đòi hỏi người nuôi ong phải liên tục di chuyển ong trong năm đến các vùng có hoa nở, đồng thời sống kiểu du mục.
Cơ hội ở trạm xăng, vì sao doanh nghiệp Việt để người khác làm?

Cơ hội ở trạm xăng, vì sao doanh nghiệp Việt để người khác làm?

Một người ghé trạm xăng thường chỉ nghĩ đến chuyện đổ đầy bình nhiên liệu rồi đi. Nhưng trong vài phút dừng lại ấy, còn có rất nhiều nhu cầu khác có thể phát sinh: chai nước, ly cà phê, món ăn nhanh, vật dụng cá nhân hay một món đồ cần mua gấp. Sự kiện Ohmee đưa cửa hàng tiện lợi vào trạm xăng đang đặt ra câu hỏi về khả năng nắm bắt cơ hội của doanh nghiệp Việt.
Thu hồi dược phẩm: Khoảng trống giữa công văn và thị trường

Thu hồi dược phẩm: Khoảng trống giữa công văn và thị trường

Thu hồi dược phẩm hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào sự tự giác của doanh nghiệp và nhà thuốc. Khoảng trống trong giám sát, truy xuất và xử lý khiến thuốc giả, thuốc kém chất lượng có nguy cơ tiếp tục lưu thông.
Kẹt xe là bình thường, không kẹt mới bất thường

Kẹt xe là bình thường, không kẹt mới bất thường

Lượng ô tô, xe máy tăng nhanh trong khi hạ tầng giao thông chưa theo kịp đang khiến kẹt xe trở thành trạng thái thường trực. Đầu tư đường bộ là cần thiết, nhưng đã đến lúc phải nhìn lại vai trò của đường sắt.
Khi nào người Việt có thể cá cược bóng đá nhiều giải đấu lớn?

Khi nào người Việt có thể cá cược bóng đá nhiều giải đấu lớn?

Nhà nước đang tìm cách hợp pháp hóa “đặt cược”, trong khi nhu cầu “cá độ” đã tồn tại từ lâu. Vấn đề không phải tạo ra nhu cầu, mà là đưa nhu cầu ấy vào một luật chơi có thể kiểm soát.
65.000 hội viên và câu hỏi về giá trị

65.000 hội viên và câu hỏi về giá trị

VINASME đã có một cộng đồng doanh nghiệp đủ lớn. Bài toán tiếp theo là biến sức mạnh tập thể thành vốn, khách hàng, thị trường và năng lực cạnh tranh cụ thể cho từng doanh nghiệp.
Đừng lấy triệu lượt xem làm thước đo sự thật

Đừng lấy triệu lượt xem làm thước đo sự thật

Triệu lượt xem, KOL có thể đưa thông điệp đến hàng triệu người chỉ trong vài giờ, nhưng lượt xem và lượng người theo dõi không phải giấy chứng nhận cho sự thật. Khi sức ảnh hưởng bị đặt ngang với năng lực kiểm chứng, ranh giới giữa truyền thông cá nhân và báo chí chính thống dễ bị xóa nhòa, đe dọa quyền tiếp cận thông tin chính xác của công chúng.
Phí dịch vụ không sai, vấn đề là khách hàng có quyền chọn hay không

Phí dịch vụ không sai, vấn đề là khách hàng có quyền chọn hay không

Thu phí để duy trì ví điện tử có thể là quyền chính đáng của doanh nghiệp chủ ví. Nhưng, khi khách hàng không muốn trả phí, điều quan trọng hơn là họ có thể lựa chọn phương án khác hay không?
Drone thì rẻ mà hàng không thì “đắt”

Drone thì rẻ mà hàng không thì “đắt”

Một chiếc drone có thể chỉ vài triệu đồng, nhưng nó có thể khiến hơn 100 chuyến bay chậm giờ, hàng ngàn hành khách phải chờ đợi, thiệt hại khó đo đếm hết được. Câu chuyện ở Tân Sơn Nhất cho thấy vấn đề không nằm ở chiếc drone, mà nằm ở cách chúng ta quản lý một công nghệ đã trở nên quá rẻ và quá phổ biến.
Khi sự chú ý trở thành quyền lực

Khi sự chú ý trở thành quyền lực

Sự chú ý trở thành quyền lực khi lượt xem trên livestream có thể chuyển hóa thành tiền, danh tiếng và sức ảnh hưởng. Đằng sau những cuộc đấu tố, phô trương hay kêu gọi từ thiện trên mạng là câu chuyện về vốn danh tiếng, cách xã hội định giá con người và khoảng cách giữa hình ảnh với năng lực thực.
Từ Sơn Đoòng nghĩ về hành trình ra thế giới

Từ Sơn Đoòng nghĩ về hành trình ra thế giới

Sau hành trình xuyên rừng, vượt sông suối và bước qua Bức tường Việt Nam ở hàng động Sơn Đoòng, tôi nhận ra một điều: hội nhập quốc tế cũng giống một cuộc thám hiểm lớn. Khát vọng đưa doanh nghiệp lên đường, nhưng năng lực, kỷ luật, niềm tin và sức mạnh của cả hệ sinh thái mới quyết định chúng ta có thể đi bao xa.
BHXH cho hướng dẫn viên du lịch, vướng mãi chưa thông

BHXH cho hướng dẫn viên du lịch, vướng mãi chưa thông

Một hướng dẫn viên có thể hôm nay dẫn tour cho doanh nghiệp này, ngày mai nhận tour của doanh nghiệp khác, mỗi tour chỉ một, hai ngày. Mô hình lao động ấy đã tồn tại hàng chục năm, nhưng đến nay bài toán bảo hiểm xã hội (BHXH) vẫn chưa có cách xử lý thật rõ ràng.
Khi bầu trời trở thành hạ tầng mới

Khi bầu trời trở thành hạ tầng mới

Kinh tế tầm thấp mở ra không gian tăng trưởng mới, nhưng lợi thế sẽ thuộc về địa phương xây dựng được thể chế, hệ sinh thái và hạ tầng UAV đồng bộ.