Thứ hai 12/10/2026 21:56
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Môi trường ô nhiễm, số liệu vẫn sạch: Ai chịu trách nhiệm?

Có những thứ tưởng như không thể nói dối, bởi chúng được đo bằng máy móc, phân tích trong phòng thí nghiệm và xác nhận bằng những con số. Nhưng khi người vận hành có thể biến thông số ô nhiễm vượt quy chuẩn thành đạt chuẩn, vấn đề không còn nằm ở độ chính xác của thiết bị. Đó là sự đổ vỡ của niềm tin vào cả hệ thống giám sát môi trường.
Bài liên quan
Siết quan trắc môi trường toàn quốc, gian lận dữ liệu sẽ bị chuyển công an
Từ vụ khởi tố 74 bị can, doanh nghiệp cần rà soát rủi ro dữ liệu môi trường
Tội phạm quan trắc môi trường đã "qua mặt mắt thần" như thế nào?
Danh sách ban đầu các bị can làm giả số liệu quan trắc môi trường và tội danh bị khởi tố

Ngày 10/10, thông tin Công an TP. Hồ Chí Minh khởi tố 5 vụ án, tạm giam 21 bị can liên quan đến hành vi bị cáo buộc làm sai lệch số liệu quan trắc môi trường(*), khiến người ta phải nhìn lại một câu hỏi tưởng đã có lời giải: Chúng ta đang bảo vệ môi trường bằng dữ liệu thực tế hay bằng những con số được làm cho đẹp?

Theo thông tin từ cơ quan điều tra, các bị can gồm giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng, nhân viên tại các đơn vị quan trắc, phân tích môi trường và những người liên quan. Họ bị cáo buộc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chỉnh sửa thông số môi trường vượt quy chuẩn thành đạt quy chuẩn hoặc thấp hơn kết quả thực tế. Một số người còn bị cáo buộc tìm cách tiêu hủy, thay đổi tài liệu, chứng cứ điện tử và dữ liệu nhằm che giấu hành vi vi phạm.

Môi trường ô nhiễm, số liệu vẫn sạch: Ai chịu trách nhiệm?
Công an TP. Hồ Chí Minh khởi tố 5 vụ án, tạm giam 21 bị can liên quan đến hành vi bị cáo buộc làm sai lệch số liệu quan trắc môi trường.

Vụ việc đang được tiếp tục điều tra, vì vậy trách nhiệm hình sự của từng cá nhân cần được xác định theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Nhưng ngay từ những thông tin ban đầu, có một vấn đề không thể xem nhẹ: Khi số liệu môi trường bị can thiệp, thiệt hại không dừng lại ở một bản báo cáo sai. Nó có thể khiến cả cộng đồng phải sống trong một môi trường ô nhiễm mà không biết mình đang đối mặt với nguy cơ gì.

Một nhà máy xả thải vượt quy chuẩn nhưng kết quả quan trắc lại thể hiện đạt chuẩn có thể tiếp tục hoạt động mà không bị phát hiện kịp thời. Cơ quan quản lý có thể đưa ra quyết định dựa trên thông tin sai lệch. Người dân sống quanh khu công nghiệp, dòng sông hoặc khu vực sản xuất có thể mất đi cơ hội được cảnh báo và bảo vệ đúng lúc.

Nói cách khác, số liệu giả không làm ô nhiễm biến mất. Nó chỉ làm cho ô nhiễm trở nên khó nhìn thấy hơn.

Khi con số trở thành bình phong

Trong nhiều năm, Việt Nam đã đầu tư đáng kể để xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường. Từ những chương trình đo đạc thủ công, hệ thống giám sát đã từng bước chuyển sang tự động hóa, truyền dữ liệu trực tuyến và kết nối với cơ quan quản lý. Các trạm quan trắc nước mặt, không khí, nước thải và khí thải công nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý môi trường.

Theo những số liệu được công bố trước đây, cả nước đã đầu tư gần 1.900 trạm quan trắc môi trường, trong đó khoảng 1.200 trạm truyền dữ liệu liên tục về trung ương. Hàng nghìn tỷ đồng đã được dành cho hạ tầng giám sát, từ mạng lưới quan trắc không khí, hệ thống quan trắc môi trường biển đến các dự án tích hợp dữ liệu.

Ở phía doanh nghiệp, nhiều cơ sở phát thải lớn đã đầu tư hệ thống quan trắc tự động theo yêu cầu pháp luật. Dữ liệu được truyền về cơ quan quản lý nhằm phục vụ giám sát, phát hiện vi phạm và kiểm soát tác động đến môi trường.

Nhìn trên phương diện đầu tư, đây là bước tiến đáng kể. Nhà nước có thêm công cụ quản lý, doanh nghiệp có hệ thống theo dõi phát thải, còn dữ liệu số mở ra khả năng giám sát liên tục thay vì chỉ kiểm tra theo từng đợt.

Nhưng những vụ việc vừa bị phát hiện cho thấy, thiết bị hiện đại không đồng nghĩa với quản lý hiệu quả. Dữ liệu truyền liên tục cũng không có nghĩa dữ liệu luôn trung thực. Một hệ thống có thể hoạt động đúng về mặt kỹ thuật nhưng vẫn cho ra kết quả sai nếu con người cố tình can thiệp vào quy trình lấy mẫu, phân tích, xử lý hoặc phát hành kết quả.

Điều đáng ngại hơn là sai lệch có thể không xuất hiện dưới dạng một lỗi dễ nhận biết. Khi thông số được chỉnh sửa có chủ đích, kết quả cuối cùng vẫn có thể mang đầy đủ hình thức của một báo cáo chuyên môn. Cơ quan tiếp nhận nhìn thấy con số, nhưng không dễ nhận ra điều gì đã xảy ra phía sau con số ấy.

Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải là Việt Nam có bao nhiêu trạm quan trắc, bao nhiêu thiết bị hiện đại hay bao nhiêu tỷ đồng đã được đầu tư. Câu hỏi phải là dữ liệu từ những hệ thống ấy có đủ độ tin cậy để làm căn cứ cho quyết định quản lý hay không.

Không thể để đối tượng giám sát tự quyết định sự thật

Đằng sau những vụ việc bị khởi tố là bài toán về cơ chế giám sát và xung đột lợi ích. Doanh nghiệp phát thải có trách nhiệm tuân thủ quy chuẩn môi trường, đầu tư hệ thống quan trắc và thực hiện nghĩa vụ báo cáo. Trong khi đó, các đơn vị quan trắc, phân tích cung cấp dịch vụ đo đạc, kiểm nghiệm và xác nhận kết quả. Cơ quan quản lý có trách nhiệm kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.

Về nguyên tắc, các chủ thể này có chức năng khác nhau. Nhưng nếu cơ chế kiểm soát không đủ chặt, mối quan hệ giữa bên phải tuân thủ, bên cung cấp kết quả và bên giám sát có thể hình thành những kẽ hở để trục lợi.

Khi kết quả quan trắc có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí xử lý chất thải, nguy cơ bị xử phạt và khả năng duy trì hoạt động sản xuất, áp lực làm đẹp số liệu là điều không thể bỏ qua. Một kết quả đạt chuẩn có thể giúp doanh nghiệp tránh được những khoản đầu tư xử lý ô nhiễm tốn kém hoặc những hệ quả pháp lý nghiêm trọng.

Nếu việc phát hiện gian lận khó khăn, trong khi lợi ích kinh tế từ hành vi vi phạm đủ lớn, chế tài dù có quy định vẫn chưa chắc tạo ra sức răn đe cần thiết.

Vấn đề vì thế không chỉ là đạo đức nghề nghiệp của một số cá nhân. Chúng ta không thể kỳ vọng mọi người luôn trung thực rồi xem đó là nền tảng duy nhất của quản lý môi trường. Vấn đề là làm sao thiết kế một hệ thống có khả năng hạn chế khả năng gian lận, tăng xác suất phát hiện và bảo đảm hành vi vi phạm phải trả giá tương xứng.

Điều này đòi hỏi phải xem xét lại tính độc lập của hoạt động quan trắc, không nên phó mặc hoàn toàn cho doanh nghiệp, cơ chế lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ, phương thức kiểm tra chéo và trách nhiệm của từng mắt xích trong chuỗi dữ liệu. Không thể chỉ yêu cầu doanh nghiệp lắp thiết bị rồi mặc nhiên coi nghĩa vụ giám sát đã hoàn thành.

Hàng chục, hàng trăm cán bộ, nhân viên có liên đến quan trắc môi trường đã và đang sa lưới hơn năm qua, chứng tỏ ít nhiều hệ thống quan trắc môi trường, đo đếm đang có vấn đề.

Đã đến lúc phải nhìn lại hệ thống quan trắc môi trường khi mà ở TP. Hồ Chí Minh, nhiều con kênh như Tham Lương nước đen ngòm, bốc mùi, kênh Ba Bò tung bọt ô nhiễm trắng xoá... nhưng kết quả các doanh nghiệp vẫn tốt, đạt chuẩn an toàn thì đáng lo thật!

Danh sách 21 bị can trong vụ án. Nguồn: Công an TP. Hồ Chí Minh

STT

Họ và tên

Năm sinh

Nơi cư trú

Chức vụ, đơn vị công tác

1

Đoàn Thị Thủy

1980

TP HCM

Giám đốc kỹ thuật Công ty Đại Phú

2

Nguyễn Chí Nhã

1994

TP HCM

Trưởng phòng thử nghiệm Công ty Đại Phú

3

Dương Thanh Tuấn

1995

TP HCM

Trưởng phòng thí nghiệm vi sinh Công ty Đại Phú

4

Nguyễn Thị Thúy Kiều

1997

TP HCM

Trưởng phòng thí nghiệm không khí, khí thải Công ty Đại Phú

5

Nguyễn Đình Lê Đại

1990

TP HCM

Giám đốc Công ty cổ phần Kỹ thuật Tiêu chuẩn QCVN Việt Nam từ ngày 6/12/2024 đến 6/9/2026

6

Lâm Đức Tráng

1985

TP HCM

Giám đốc Công ty cổ phần Kỹ thuật Tiêu chuẩn QCVN Việt Nam từ khi thành lập năm 2014 đến ngày 6/12/2024

7

Nguyễn Thị Quỳnh Vân

1992

Lâm Đồng

Phó giám đốc kỹ thuật, Trưởng phòng thí nghiệm Công ty cổ phần Kỹ thuật Tiêu chuẩn QCVN Việt Nam

8

Nguyễn Như Hiển

1980

TP HCM

Giám đốc Trung tâm Công nghệ Môi trường (Cefinea)

9

Phan Thị Hoài Trinh

1993

TP HCM

Trưởng phòng thí nghiệm Trung tâm Công nghệ Môi trường (Cefinea)

10

Võ Thị Mỹ Lệ

1987

TP HCM

Nhân viên Trung tâm Công nghệ Môi trường (Cefinea), đã nghỉ việc

11

Trần Thị Phương Linh

1993

TP HCM

Nhân viên Trung tâm Công nghệ Môi trường (Cefinea)

12

Đặng Thị Hoài

1986

TP HCM

Kế toán Trung tâm Công nghệ Môi trường (Cefinea)

13

Nguyễn Thị Phương Thảo

1984

TP Đồng Nai

Giám đốc Công ty TNHH Nguyễn Khánh Bảo Vy

14

Lê Thục Anh

1979

TP HCM

Phó giám đốc Công ty TNHH Hóa chất Lê Hân

15

Đinh Tấn Thu

1978

TP HCM

Giám đốc Công ty Môi trường Phương Nam

16

Lại Minh Tiến

1983

TP HCM

Phó giám đốc Công ty Môi trường Phương Nam

17

Cao Trần Thảo Uyên

1990

TP HCM

Trưởng phòng thí nghiệm Công ty Môi trường Phương Nam

18

Nguyễn Thanh Phong

1985

TP HCM

Nguyên Trưởng phòng thí nghiệm Công ty Môi trường Phương Nam; hiện là phó giám đốc Công ty Navitek

19

Hoàng Hoài

1977

TP HCM

Tổng giám đốc Công ty cổ phần Kiểm nghiệm Navitek

20

Nguyễn Thanh Phong

1985

TP HCM

Phó tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật Công ty cổ phần Kiểm nghiệm Navitek

21

Nguyễn Tuấn Huy

1996

TP HCM

Trưởng phòng thí nghiệm Công ty cổ phần Kiểm nghiệm Navitek

--------------------

(*) https://vnexpress.net/nhieu-giam-doc-o-tp-hcm-bi-khoi-to-vi-lam-gia-so-lieu-moi-truong-5130786.html

Tin bài khác
Vụ Tami Natural: Trách nhiệm của Amity và nghệ sĩ Quyền Linh đến đâu?

Vụ Tami Natural: Trách nhiệm của Amity và nghệ sĩ Quyền Linh đến đâu?

Vụ việc Tami Natural đặt ra một câu hỏi không chỉ dành cho người nổi tiếng, mà còn với bất kỳ ai tham gia đầu tư, điều hành hay quảng bá sản phẩm: Khi doanh nghiệp xảy ra sai phạm, trách nhiệm của mỗi cá nhân này được xác định đến đâu?
Du lịch không thể sống mãi nhờ trend

Du lịch không thể sống mãi nhờ trend

Du lịch đang hưởng lợi từ những video triệu view trên TikTok, Facebook, nhưng chạy theo trend không thể là chiến lược dài hạn. Điểm đến muốn giữ chân du khách cần dựa vào văn hóa, trải nghiệm và giá trị bền vững.
Biochar và cuộc chơi mới của thị trường carbon phân tán

Biochar và cuộc chơi mới của thị trường carbon phân tán

Từ mùn cưa, rơm rạ, trấu đến phế phẩm tre nứa, biochar đang mở ra cách biến phụ phẩm phân tán thành sản phẩm và tín chỉ carbon. Nhưng phía sau mỗi tấn biochar là một chuỗi đo đếm, xác minh và chứng nhận quyết định giá trị thực của tài sản carbon.
Đánh thuế bao bì khó tái chế, cần lộ trình phù hợp cho doanh nghiệp

Đánh thuế bao bì khó tái chế, cần lộ trình phù hợp cho doanh nghiệp

Đề xuất đánh thuế môi trường với bao bì khó tái chế đang mở ra một hướng tiếp cận mới trong sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường. Thế nhưng, nếu thiếu hạ tầng tái chế và lộ trình phù hợp thì sắc thuế này có thể biến thành gánh nặng chi phí hơn là động lực chuyển đổi xanh.
Muốn du lịch cất cánh, hãy dọn tổ cho cả đàn chim

Muốn du lịch cất cánh, hãy dọn tổ cho cả đàn chim

Muốn đàn chim Việt bay xa, không thể chỉ chăm sóc một vài "con sếu đầu đàn", mà phải dọn sạch chiếc tổ chung, mở rộng bầu trời và trao cơ hội cho mọi cánh chim có năng lực.
Bỏ độc quyền vàng miếng: Nhà nước từ người chơi thành trọng tài

Bỏ độc quyền vàng miếng: Nhà nước từ người chơi thành trọng tài

Bỏ độc quyền vàng miếng mở ra chương mới cho thị trường vàng Việt Nam. Nhà nước chuyển từ người chơi duy nhất sang trọng tài, nhưng trách nhiệm quản lý và bình ổn thị trường vẫn rất lớn.
Đừng để chỉ dẫn địa lý thành “tem trang trí”

Đừng để chỉ dẫn địa lý thành “tem trang trí”

Mật ong bạc hà Mèo Vạc được khai thác từ nguồn hoa bạc hà dại mọc trên vùng núi đá cao của Hà Giang (cũ). Sản phẩm có màu vàng xanh đặc trưng, vị ngọt dịu và mùi thơm dễ chịu. Để làm ra mật ong này đòi hỏi người nuôi ong phải liên tục di chuyển ong trong năm đến các vùng có hoa nở, đồng thời sống kiểu du mục.
Cơ hội ở trạm xăng, vì sao doanh nghiệp Việt để người khác làm?

Cơ hội ở trạm xăng, vì sao doanh nghiệp Việt để người khác làm?

Một người ghé trạm xăng thường chỉ nghĩ đến chuyện đổ đầy bình nhiên liệu rồi đi. Nhưng trong vài phút dừng lại ấy, còn có rất nhiều nhu cầu khác có thể phát sinh: chai nước, ly cà phê, món ăn nhanh, vật dụng cá nhân hay một món đồ cần mua gấp. Sự kiện Ohmee đưa cửa hàng tiện lợi vào trạm xăng đang đặt ra câu hỏi về khả năng nắm bắt cơ hội của doanh nghiệp Việt.
Thu hồi dược phẩm: Khoảng trống giữa công văn và thị trường

Thu hồi dược phẩm: Khoảng trống giữa công văn và thị trường

Thu hồi dược phẩm hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào sự tự giác của doanh nghiệp và nhà thuốc. Khoảng trống trong giám sát, truy xuất và xử lý khiến thuốc giả, thuốc kém chất lượng có nguy cơ tiếp tục lưu thông.
Kẹt xe là bình thường, không kẹt mới bất thường

Kẹt xe là bình thường, không kẹt mới bất thường

Lượng ô tô, xe máy tăng nhanh trong khi hạ tầng giao thông chưa theo kịp đang khiến kẹt xe trở thành trạng thái thường trực. Đầu tư đường bộ là cần thiết, nhưng đã đến lúc phải nhìn lại vai trò của đường sắt.
Khi nào người Việt có thể cá cược bóng đá nhiều giải đấu lớn?

Khi nào người Việt có thể cá cược bóng đá nhiều giải đấu lớn?

Nhà nước đang tìm cách hợp pháp hóa “đặt cược”, trong khi nhu cầu “cá độ” đã tồn tại từ lâu. Vấn đề không phải tạo ra nhu cầu, mà là đưa nhu cầu ấy vào một luật chơi có thể kiểm soát.
65.000 hội viên và câu hỏi về giá trị

65.000 hội viên và câu hỏi về giá trị

VINASME đã có một cộng đồng doanh nghiệp đủ lớn. Bài toán tiếp theo là biến sức mạnh tập thể thành vốn, khách hàng, thị trường và năng lực cạnh tranh cụ thể cho từng doanh nghiệp.
Đừng lấy triệu lượt xem làm thước đo sự thật

Đừng lấy triệu lượt xem làm thước đo sự thật

Triệu lượt xem, KOL có thể đưa thông điệp đến hàng triệu người chỉ trong vài giờ, nhưng lượt xem và lượng người theo dõi không phải giấy chứng nhận cho sự thật. Khi sức ảnh hưởng bị đặt ngang với năng lực kiểm chứng, ranh giới giữa truyền thông cá nhân và báo chí chính thống dễ bị xóa nhòa, đe dọa quyền tiếp cận thông tin chính xác của công chúng.
Phí dịch vụ không sai, vấn đề là khách hàng có quyền chọn hay không

Phí dịch vụ không sai, vấn đề là khách hàng có quyền chọn hay không

Thu phí để duy trì ví điện tử có thể là quyền chính đáng của doanh nghiệp chủ ví. Nhưng, khi khách hàng không muốn trả phí, điều quan trọng hơn là họ có thể lựa chọn phương án khác hay không?
Drone thì rẻ mà hàng không thì “đắt”

Drone thì rẻ mà hàng không thì “đắt”

Một chiếc drone có thể chỉ vài triệu đồng, nhưng nó có thể khiến hơn 100 chuyến bay chậm giờ, hàng ngàn hành khách phải chờ đợi, thiệt hại khó đo đếm hết được. Câu chuyện ở Tân Sơn Nhất cho thấy vấn đề không nằm ở chiếc drone, mà nằm ở cách chúng ta quản lý một công nghệ đã trở nên quá rẻ và quá phổ biến.