Ngày 10/10, thông tin Công an TP. Hồ Chí Minh khởi tố 5 vụ án, tạm giam 21 bị can liên quan đến hành vi bị cáo buộc làm sai lệch số liệu quan trắc môi trường(*), khiến người ta phải nhìn lại một câu hỏi tưởng đã có lời giải: Chúng ta đang bảo vệ môi trường bằng dữ liệu thực tế hay bằng những con số được làm cho đẹp?
Theo thông tin từ cơ quan điều tra, các bị can gồm giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng, nhân viên tại các đơn vị quan trắc, phân tích môi trường và những người liên quan. Họ bị cáo buộc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chỉnh sửa thông số môi trường vượt quy chuẩn thành đạt quy chuẩn hoặc thấp hơn kết quả thực tế. Một số người còn bị cáo buộc tìm cách tiêu hủy, thay đổi tài liệu, chứng cứ điện tử và dữ liệu nhằm che giấu hành vi vi phạm.
![]() |
| Công an TP. Hồ Chí Minh khởi tố 5 vụ án, tạm giam 21 bị can liên quan đến hành vi bị cáo buộc làm sai lệch số liệu quan trắc môi trường. |
Vụ việc đang được tiếp tục điều tra, vì vậy trách nhiệm hình sự của từng cá nhân cần được xác định theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Nhưng ngay từ những thông tin ban đầu, có một vấn đề không thể xem nhẹ: Khi số liệu môi trường bị can thiệp, thiệt hại không dừng lại ở một bản báo cáo sai. Nó có thể khiến cả cộng đồng phải sống trong một môi trường ô nhiễm mà không biết mình đang đối mặt với nguy cơ gì.
Một nhà máy xả thải vượt quy chuẩn nhưng kết quả quan trắc lại thể hiện đạt chuẩn có thể tiếp tục hoạt động mà không bị phát hiện kịp thời. Cơ quan quản lý có thể đưa ra quyết định dựa trên thông tin sai lệch. Người dân sống quanh khu công nghiệp, dòng sông hoặc khu vực sản xuất có thể mất đi cơ hội được cảnh báo và bảo vệ đúng lúc.
Nói cách khác, số liệu giả không làm ô nhiễm biến mất. Nó chỉ làm cho ô nhiễm trở nên khó nhìn thấy hơn.
Trong nhiều năm, Việt Nam đã đầu tư đáng kể để xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường. Từ những chương trình đo đạc thủ công, hệ thống giám sát đã từng bước chuyển sang tự động hóa, truyền dữ liệu trực tuyến và kết nối với cơ quan quản lý. Các trạm quan trắc nước mặt, không khí, nước thải và khí thải công nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý môi trường.
Theo những số liệu được công bố trước đây, cả nước đã đầu tư gần 1.900 trạm quan trắc môi trường, trong đó khoảng 1.200 trạm truyền dữ liệu liên tục về trung ương. Hàng nghìn tỷ đồng đã được dành cho hạ tầng giám sát, từ mạng lưới quan trắc không khí, hệ thống quan trắc môi trường biển đến các dự án tích hợp dữ liệu.
Ở phía doanh nghiệp, nhiều cơ sở phát thải lớn đã đầu tư hệ thống quan trắc tự động theo yêu cầu pháp luật. Dữ liệu được truyền về cơ quan quản lý nhằm phục vụ giám sát, phát hiện vi phạm và kiểm soát tác động đến môi trường.
Nhìn trên phương diện đầu tư, đây là bước tiến đáng kể. Nhà nước có thêm công cụ quản lý, doanh nghiệp có hệ thống theo dõi phát thải, còn dữ liệu số mở ra khả năng giám sát liên tục thay vì chỉ kiểm tra theo từng đợt.
Nhưng những vụ việc vừa bị phát hiện cho thấy, thiết bị hiện đại không đồng nghĩa với quản lý hiệu quả. Dữ liệu truyền liên tục cũng không có nghĩa dữ liệu luôn trung thực. Một hệ thống có thể hoạt động đúng về mặt kỹ thuật nhưng vẫn cho ra kết quả sai nếu con người cố tình can thiệp vào quy trình lấy mẫu, phân tích, xử lý hoặc phát hành kết quả.
Điều đáng ngại hơn là sai lệch có thể không xuất hiện dưới dạng một lỗi dễ nhận biết. Khi thông số được chỉnh sửa có chủ đích, kết quả cuối cùng vẫn có thể mang đầy đủ hình thức của một báo cáo chuyên môn. Cơ quan tiếp nhận nhìn thấy con số, nhưng không dễ nhận ra điều gì đã xảy ra phía sau con số ấy.
Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải là Việt Nam có bao nhiêu trạm quan trắc, bao nhiêu thiết bị hiện đại hay bao nhiêu tỷ đồng đã được đầu tư. Câu hỏi phải là dữ liệu từ những hệ thống ấy có đủ độ tin cậy để làm căn cứ cho quyết định quản lý hay không.
Đằng sau những vụ việc bị khởi tố là bài toán về cơ chế giám sát và xung đột lợi ích. Doanh nghiệp phát thải có trách nhiệm tuân thủ quy chuẩn môi trường, đầu tư hệ thống quan trắc và thực hiện nghĩa vụ báo cáo. Trong khi đó, các đơn vị quan trắc, phân tích cung cấp dịch vụ đo đạc, kiểm nghiệm và xác nhận kết quả. Cơ quan quản lý có trách nhiệm kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
Về nguyên tắc, các chủ thể này có chức năng khác nhau. Nhưng nếu cơ chế kiểm soát không đủ chặt, mối quan hệ giữa bên phải tuân thủ, bên cung cấp kết quả và bên giám sát có thể hình thành những kẽ hở để trục lợi.
Khi kết quả quan trắc có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí xử lý chất thải, nguy cơ bị xử phạt và khả năng duy trì hoạt động sản xuất, áp lực làm đẹp số liệu là điều không thể bỏ qua. Một kết quả đạt chuẩn có thể giúp doanh nghiệp tránh được những khoản đầu tư xử lý ô nhiễm tốn kém hoặc những hệ quả pháp lý nghiêm trọng.
Nếu việc phát hiện gian lận khó khăn, trong khi lợi ích kinh tế từ hành vi vi phạm đủ lớn, chế tài dù có quy định vẫn chưa chắc tạo ra sức răn đe cần thiết.
Vấn đề vì thế không chỉ là đạo đức nghề nghiệp của một số cá nhân. Chúng ta không thể kỳ vọng mọi người luôn trung thực rồi xem đó là nền tảng duy nhất của quản lý môi trường. Vấn đề là làm sao thiết kế một hệ thống có khả năng hạn chế khả năng gian lận, tăng xác suất phát hiện và bảo đảm hành vi vi phạm phải trả giá tương xứng.
Điều này đòi hỏi phải xem xét lại tính độc lập của hoạt động quan trắc, không nên phó mặc hoàn toàn cho doanh nghiệp, cơ chế lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ, phương thức kiểm tra chéo và trách nhiệm của từng mắt xích trong chuỗi dữ liệu. Không thể chỉ yêu cầu doanh nghiệp lắp thiết bị rồi mặc nhiên coi nghĩa vụ giám sát đã hoàn thành.
Hàng chục, hàng trăm cán bộ, nhân viên có liên đến quan trắc môi trường đã và đang sa lưới hơn năm qua, chứng tỏ ít nhiều hệ thống quan trắc môi trường, đo đếm đang có vấn đề.
Đã đến lúc phải nhìn lại hệ thống quan trắc môi trường khi mà ở TP. Hồ Chí Minh, nhiều con kênh như Tham Lương nước đen ngòm, bốc mùi, kênh Ba Bò tung bọt ô nhiễm trắng xoá... nhưng kết quả các doanh nghiệp vẫn tốt, đạt chuẩn an toàn thì đáng lo thật!
Danh sách 21 bị can trong vụ án. Nguồn: Công an TP. Hồ Chí Minh
| STT | Họ và tên | Năm sinh | Nơi cư trú | Chức vụ, đơn vị công tác |
| 1 | Đoàn Thị Thủy | 1980 | TP HCM | Giám đốc kỹ thuật Công ty Đại Phú |
| 2 | Nguyễn Chí Nhã | 1994 | TP HCM | Trưởng phòng thử nghiệm Công ty Đại Phú |
| 3 | Dương Thanh Tuấn | 1995 | TP HCM | Trưởng phòng thí nghiệm vi sinh Công ty Đại Phú |
| 4 | Nguyễn Thị Thúy Kiều | 1997 | TP HCM | Trưởng phòng thí nghiệm không khí, khí thải Công ty Đại Phú |
| 5 | Nguyễn Đình Lê Đại | 1990 | TP HCM | Giám đốc Công ty cổ phần Kỹ thuật Tiêu chuẩn QCVN Việt Nam từ ngày 6/12/2024 đến 6/9/2026 |
| 6 | Lâm Đức Tráng | 1985 | TP HCM | Giám đốc Công ty cổ phần Kỹ thuật Tiêu chuẩn QCVN Việt Nam từ khi thành lập năm 2014 đến ngày 6/12/2024 |
| 7 | Nguyễn Thị Quỳnh Vân | 1992 | Lâm Đồng | Phó giám đốc kỹ thuật, Trưởng phòng thí nghiệm Công ty cổ phần Kỹ thuật Tiêu chuẩn QCVN Việt Nam |
| 8 | Nguyễn Như Hiển | 1980 | TP HCM | Giám đốc Trung tâm Công nghệ Môi trường (Cefinea) |
| 9 | Phan Thị Hoài Trinh | 1993 | TP HCM | Trưởng phòng thí nghiệm Trung tâm Công nghệ Môi trường (Cefinea) |
| 10 | Võ Thị Mỹ Lệ | 1987 | TP HCM | Nhân viên Trung tâm Công nghệ Môi trường (Cefinea), đã nghỉ việc |
| 11 | Trần Thị Phương Linh | 1993 | TP HCM | Nhân viên Trung tâm Công nghệ Môi trường (Cefinea) |
| 12 | Đặng Thị Hoài | 1986 | TP HCM | Kế toán Trung tâm Công nghệ Môi trường (Cefinea) |
| 13 | Nguyễn Thị Phương Thảo | 1984 | TP Đồng Nai | Giám đốc Công ty TNHH Nguyễn Khánh Bảo Vy |
| 14 | Lê Thục Anh | 1979 | TP HCM | Phó giám đốc Công ty TNHH Hóa chất Lê Hân |
| 15 | Đinh Tấn Thu | 1978 | TP HCM | Giám đốc Công ty Môi trường Phương Nam |
| 16 | Lại Minh Tiến | 1983 | TP HCM | Phó giám đốc Công ty Môi trường Phương Nam |
| 17 | Cao Trần Thảo Uyên | 1990 | TP HCM | Trưởng phòng thí nghiệm Công ty Môi trường Phương Nam |
| 18 | Nguyễn Thanh Phong | 1985 | TP HCM | Nguyên Trưởng phòng thí nghiệm Công ty Môi trường Phương Nam; hiện là phó giám đốc Công ty Navitek |
| 19 | Hoàng Hoài | 1977 | TP HCM | Tổng giám đốc Công ty cổ phần Kiểm nghiệm Navitek |
| 20 | Nguyễn Thanh Phong | 1985 | TP HCM | Phó tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật Công ty cổ phần Kiểm nghiệm Navitek |
| 21 | Nguyễn Tuấn Huy | 1996 | TP HCM | Trưởng phòng thí nghiệm Công ty cổ phần Kiểm nghiệm Navitek |
--------------------
(*) https://vnexpress.net/nhieu-giam-doc-o-tp-hcm-bi-khoi-to-vi-lam-gia-so-lieu-moi-truong-5130786.html