Điều đáng nói là hệ thống này đang xử lý một phần rất lớn dòng vật liệu có khả năng tái chế, nhưng lại nằm khá xa thiết kế chính sách, cơ chế tài chính và quá trình phân phối giá trị của nền kinh tế tuần hoàn.
Trong kinh tế môi trường, kinh tế tuần hoàn hướng tới việc kéo dài vòng đời sản phẩm, đưa chất thải trở lại làm nguyên liệu đầu vào, qua đó giảm khai thác tài nguyên, giảm chất thải và phát thải khí nhà kính.
Nhìn dưới góc độ đó, hoạt động của những người thu gom ve chai không khác nhiều một mắt xích đầu tiên của chuỗi kinh tế tuần hoàn. Một chai nhựa, lon nhôm, giấy carton hay thiết bị điện tử cũ thay vì đi thẳng vào bãi chôn lấp được thu gom, phân loại, tập kết, sơ chế rồi đưa trở lại các cơ sở sản xuất.
Điểm khác biệt là chuỗi này hình thành không phải từ một quy hoạch tổng thể, mà từ tín hiệu thị trường.
![]() |
Dự án “Hồi sinh rác thải nhựa - The Plastic Reborn” do Unilever và VietCycle thực hiện từ năm 2021 đến 2025 tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Tư liệu của dự án |
Khi một loại phế liệu có giá trị, người dân có động lực thu gom. Đại lý có động lực mua lại. Cơ sở tái chế có động lực sơ chế và đưa vật liệu trở lại sản xuất. Giá cả trở thành tín hiệu điều phối cả mạng lưới mà không cần một trung tâm điều hành.
Theo Báo cáo chất thải nhựa năm 2022 của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Việt Nam có khoảng 0,89 triệu tấn chất thải nhựa được thu gom để tái chế, tương đương khoảng 30% tổng lượng phát sinh mỗi năm của nhựa. Đáng chú ý, khoảng hai phần ba khối lượng này được thu gom bởi khu vực phi chính thức, nói nôm na là lực lượng ve chai, đồng nát giữ vai trò quan trọng.
Con số này cho thấy một nghịch lý chính sách. Những người đang giúp xã hội giảm lượng rác phải xử lý lại không thực sự được nhìn nhận như một bộ phận của hệ thống quản lý tài nguyên. Họ thường được xem là người thu gom phế liệu, thay vì là một tác nhân kinh tế đang cung cấp dịch vụ thu hồi vật liệu cho toàn bộ nền kinh tế.
Chuỗi hoạt động khá rõ: người thu gom, đại lý, điểm tập kết, cơ sở phân loại, cơ sở sơ chế và cuối cùng là nhà máy tái chế. Không được thiết kế bài bản từ đầu nhưng chuỗi này đã tồn tại, thích nghi và phát triển theo nhu cầu thị trường từ hàng chục năm qua.
Một ví dụ đáng chú ý là dự án “Hồi sinh rác thải nhựa, The Plastic Reborn” do Unilever và VietCycle thực hiện giai đoạn 2021-2025 tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh(**). Dự án đã thu gom, tái chế hơn 40.494 tấn nhựa, kết nối khoảng 200 điểm thu gom và hỗ trợ khoảng 3.000 lao động phi chính thức.
Điều đó cho thấy khu vực phi chính thức không phải một “khoảng trống” cần xóa bỏ. Đây là một nguồn lực có thể được tổ chức và nâng cấp.
Nếu nhìn bằng lăng kính kinh tế học, hệ thống ve chai là một mạng lưới tự tổ chức khá điển hình. Không cần một cơ quan trung tâm phân công ai đi thu gom chai nhựa, ai thu gom giấy hay ai mua lon nhôm. Giá phế liệu và nhu cầu của thị trường đã tự tạo ra động lực. Khi giá tăng, thu gom tăng, khi giá giảm, nguồn lực dịch chuyển sang những vật liệu có giá trị hơn.
Đây chính là ưu điểm lớn nhất của hệ thống phi chính thức: linh hoạt, chi phí thấp và khả năng len sâu vào từng khu dân cư, thôn xóm.
Chi phí thu gom trong khu vực phi chính thức thường thấp hơn hệ thống chính thức do tận dụng lao động thủ công, cơ sở vật chất đơn giản và mạng lưới quan hệ trực tiếp giữa người thu gom với hộ gia đình, cơ sở kinh doanh. Một số nghiên cứu cho rằng mức chi phí có thể thấp hơn 20-50% so với mô hình chính thức trong một số công đoạn.
Nhưng hiệu quả thu gom cao không đồng nghĩa với việc người thu gom được hưởng phần giá trị tương xứng.
Theo nghiên cứu của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc về tích hợp khu vực lao động tự do trong quản lý chất thải rắn tại Việt Nam năm 2025, lao động trực tiếp thu mua phế liệu có thu nhập khoảng 5-10 triệu đồng/tháng, trong khi chủ các cơ sở tái chế có thể đạt mức 10-50 triệu đồng/tháng, một số cơ sở lớn có doanh thu hoặc thu nhập cao hơn đáng kể.
Khoảng cách này phản ánh một quy luật kinh tế quen thuộc: giá trị gia tăng thường tăng dần theo mức độ chế biến và khả năng kiểm soát thị trường.
Người thu gom chịu chi phí thời gian, sức lao động và rủi ro nhưng khả năng mặc cả rất thấp. Họ bán vật liệu thu gom ở trạng thái thô. Những khâu phân loại, sơ chế, tái chế và đưa sản phẩm trở lại thị trường mới là nơi tạo ra phần giá trị lớn hơn.
Vì vậy, vấn đề của kinh tế tuần hoàn không chỉ là “thu gom được bao nhiêu rác”, mà còn là “ai nhận được bao nhiêu giá trị từ dòng vật liệu đó”.
Nếu chỉ đặt mục tiêu tăng tỷ lệ tái chế mà không quan tâm đến cấu trúc phân phối giá trị, chúng ta có thể xây dựng được một thị trường tái chế nhưng vẫn duy trì một tầng lớp lao động ở đáy chuỗi với thu nhập thấp và thiếu bảo vệ xã hội.
Sự xuất hiện của cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), hay nói dễ hiểu là xả phát thải phải trả tiền hoặc phải lo mà thu gom, đã mở ra một cơ hội quan trọng để kết nối khu vực phi chính thức với nền kinh tế tuần hoàn chính thức.
Về nguyên tắc, nhà sản xuất và nhập khẩu phải có trách nhiệm đối với sản phẩm, bao bì trong suốt vòng đời, bao gồm cả giai đoạn sau tiêu dùng. Nhưng muốn thực hiện được trách nhiệm đó, doanh nghiệp cần một mạng lưới thu gom và tái chế đủ rộng.
![]() |
| Ve chai hay có nơi gọi là bà đồng nát, lực lượng phi chính thức ít nhiều tham gia vào kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam. Ảnh: Tư liệu |
Mạng lưới ve chai đã có sẵn. Vấn đề là hai bên chưa được kết nối đầy đủ bằng một cơ chế thị trường minh bạch.
Nếu doanh nghiệp phải bỏ tiền để thực hiện nghĩa vụ tái chế, trong khi lực lượng thu gom đang nắm giữ một phần lớn dòng vật liệu, chính sách cần tạo ra cơ chế để dòng tiền EPR có thể tiếp cận đúng các khâu thu gom, phân loại và tái chế.
Khi đó, EPR không chỉ là một nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp. Nó có thể trở thành công cụ nâng cấp một thị trường đang tồn tại.
Tất nhiên, đưa khu vực phi chính thức vào hệ thống chính thức không có nghĩa là biến một người thu gom ve chai thành một doanh nghiệp với hàng loạt thủ tục hành chính.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều quốc gia đã lựa chọn cách tiếp cận mềm hơn.
Tại Brazil, lực lượng thu gom phi chính thức được tổ chức thành các hợp tác xã và từng bước kết nối với hệ thống quản lý chất thải. Colombia cũng từng trải qua quá trình tranh luận và điều chỉnh chính sách liên quan đến việc công nhận người thu gom rác tái chế.
Bài học quan trọng không nằm ở việc sao chép mô hình của nước nào, mà ở nguyên tắc: chính sách không nên phá vỡ một mạng lưới đang hoạt động nếu chưa có khả năng tạo ra một mạng lưới thay thế hiệu quả hơn.
Đối với Việt Nam, hướng phù hợp có thể là “chính thức hóa từng phần”. Nhà nước công nhận vai trò của lực lượng thu gom phi chính thức, hỗ trợ bảo hộ lao động, tiếp cận bảo hiểm, đào tạo kỹ năng và kết nối với doanh nghiệp tái chế. Các điểm thu gom có thể từng bước được chuẩn hóa về điều kiện môi trường, an toàn và truy xuất nguồn gốc.
Công nghệ số cũng có thể được sử dụng để kết nối người thu gom với đại lý, doanh nghiệp tái chế và nhà sản xuất. Khi dòng vật liệu được ghi nhận, giá trị kinh tế của nó cũng có thể được đo lường tốt hơn.
Quan trọng hơn, cần tạo điều kiện để người thu gom có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, thay vì chỉ bán vật liệu thô.
Đây là nơi doanh nghiệp có thể đóng vai trò lớn. Các nhà sản xuất, doanh nghiệp hàng tiêu dùng, bán lẻ và tái chế có thể xây dựng mạng lưới thu hồi trực tiếp, ký hợp đồng với hợp tác xã hoặc nhóm thu gom, qua đó vừa bảo đảm nguồn nguyên liệu, vừa đáp ứng yêu cầu EPR.
Kinh tế tuần hoàn cuối cùng vẫn là một bài toán kinh tế. Nếu chi phí thu gom, phân loại và tái chế cao hơn giá trị vật liệu thu hồi, thị trường sẽ không tự vận hành bền vững. Nếu quy định quá phức tạp, những người nhỏ lẻ sẽ bị đẩy ra ngoài. Nếu thiếu cơ chế chia sẻ giá trị, người tạo ra lợi ích môi trường lớn nhất có thể lại nhận phần lợi ích kinh tế nhỏ nhất.
Vì vậy, chính sách cần tránh một nghịch lý: càng muốn chính thức hóa thị trường tái chế, càng làm cho những người đang vận hành nó khó tham gia.
Mục tiêu không phải là biến toàn bộ lực lượng ve chai thành một hệ thống hành chính hóa. Mục tiêu là biến năng lực thu gom hiện hữu thành một phần có thể đo đếm, kết nối và nâng cấp của nền kinh tế tuần hoàn.
Việt Nam không bắt đầu xây dựng kinh tế tuần hoàn từ con số 0. Một phần của nền kinh tế tuần hoàn đã tồn tại ngay trên những chiếc xe đẩy, trong các vựa ve chai và các con hẻm đô thị.
Nhà nước có thể kết nối họ với EPR. Doanh nghiệp có thể biến họ thành một phần của chuỗi cung ứng nguyên liệu tái chế. Công nghệ có thể giúp minh bạch dòng vật liệu. Thị trường có thể phân phối lại giá trị công bằng hơn.
Kinh tế tuần hoàn vì thế không chỉ là câu chuyện xử lý rác. Đó còn là câu chuyện thiết kế lại thị trường, tổ chức lại chuỗi giá trị và phân phối lại lợi ích từ tài nguyên.
Nếu làm được điều đó, những người từng được gọi giản đơn là “ve chai” có thể trở thành một mắt xích được ghi nhận trong một ngành kinh tế mới.
Còn nếu tiếp tục đứng ngoài chính sách, họ vẫn sẽ thu gom rác cho nền kinh tế, nhưng phần lớn giá trị của nền kinh tế tuần hoàn sẽ tiếp tục nằm ở những khâu phía sau.
-----------------------------------------
(*) Giảng viên Khoa Kinh tế Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị Khu vực II
(**) Bài viết có sử dụng một số thông tin của Dự án “Hồi sinh rác thải nhựa - The Plastic Reborn” do Unilever và VietCycle thực hiện từ năm 2021 đến 2025 tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh