Nhưng, mật ong bạc hà Mèo Vạc cho thấy rõ nhất điểm yếu của cơ chế chỉ dẫn địa lý. Sản phẩm được bảo hộ từ năm 2013. Giá bán có thời điểm lên tới 600.000-900.000 đồng/lít, thậm chí 1,5 triệu đồng/lít. Nhưng cùng mang một chỉ dẫn địa lý, chất lượng giữa các cơ sở lại chưa đồng đều.
Với một thương hiệu doanh nghiệp, sản phẩm kém chất lượng có thể làm hỏng uy tín của doanh nghiệp đó. Với chỉ dẫn địa lý, một sản phẩm kém chất lượng có thể kéo cả vùng sản xuất xuống theo.
Người làm tốt phải gánh hậu quả từ người làm ẩu chính là nghịch lý nguy hiểm nhất của tài sản trí tuệ cộng đồng. Chỉ dẫn địa lý tạo ra một “thương hiệu chung”, nhưng nếu không có cơ chế kiểm soát đủ chặt, thương hiệu chung rất dễ trở thành “thương hiệu không ai chịu trách nhiệm”.
Ai kiểm tra sản phẩm? Ai xử lý cơ sở vi phạm? Ai có quyền đình chỉ việc sử dụng chỉ dẫn địa lý? Người tiêu dùng mua phải hàng kém chất lượng thì khiếu nại với ai?
Nếu những câu hỏi này chưa có câu trả lời rõ ràng, việc cấp giấy chứng nhận mới chỉ giải quyết được quyền sở hữu trên giấy.
![]() |
| Khai thác mật ong bạc hà Mèo Vạc. |
Đáng nói hơn, giá bán cao lại có thể làm gia tăng động cơ trục lợi. Một lít mật ong thông thường không thể có giá như mật ong bạc hà Mèo Vạc. Chênh lệch giá càng lớn, lợi ích từ việc gắn nhãn “bạc hà Mèo Vạc” càng lớn. Khi đó, chỉ dẫn địa lý không chỉ cần được quảng bá mà còn phải được bảo vệ như một tài sản có giá trị kinh tế.
Nếu quản lý lỏng lẻo, thị trường sẽ nhanh chóng xuất hiện những sản phẩm “ăn theo” danh tiếng của vùng đất. Đến lúc người tiêu dùng mất niềm tin, người chịu thiệt không chỉ là một cơ sở sản xuất, cả cộng đồng sẽ mất thị trường.
Bảo hộ xác lập quyền sử dụng tên gọi nhưng nó không tự động tạo ra chất lượng và càng không thể tự động tạo ra thị trường. Một sản phẩm được cấp chỉ dẫn địa lý vẫn phải chứng minh chất lượng trong từng lô hàng, từng mùa vụ và từng điểm bán.
Nếu chỉ kiểm tra lúc cấp chứng nhận rồi để thị trường tự vận hành, danh tiếng được tích lũy qua hàng chục năm có thể bị tiêu hao rất nhanh. Vì vậy, điều cần thiết không phải là thêm thật nhiều chỉ dẫn địa lý. Điều cần thiết là nâng chất lượng quản trị những chỉ dẫn địa lý đã có.
Phải có tiêu chuẩn rõ, truy xuất được nguồn gốc và kiểm tra độc lập. Phải có cơ chế xử lý nhanh khi phát hiện vi phạm. Quan trọng nhất, người sử dụng chỉ dẫn địa lý phải hiểu rằng họ đang sử dụng tài sản chung, chứ không phải một cái tên miễn phí. Không thể vừa hưởng giá trị của thương hiệu chung, vừa đứng ngoài trách nhiệm bảo vệ nó.
Một lập luận thường được nhắc đến hiện nay trên báo đài là chỉ dẫn địa lý giúp nâng giá sản phẩm và tăng thu nhập cho nông dân. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ.
Người sản xuất phải được hưởng phần giá trị tăng thêm, nhưng họ cũng phải chịu trách nhiệm giữ đúng quy trình, chất lượng và nguồn gốc.
Doanh nghiệp không thể mua nguyên liệu rẻ rồi tự gắn “câu chuyện vùng đất” lên bao bì. Hợp tác xã không thể đứng tên vùng sản xuất nhưng không kiểm soát thành viên. Cơ quan quản lý cũng không thể chỉ cấp giấy rồi chờ thị trường tự bảo vệ danh tiếng.
Hãy hỏi một câu khó hơn: sau khi được bảo hộ, chất lượng có tốt hơn không, giá trị ở lại vùng sản xuất có nhiều hơn không và thu nhập của người làm ra sản phẩm có tăng không?
Nếu chưa, chúng ta mới chỉ bảo vệ được cái tên, còn thứ cần bảo vệ thực sự là danh tiếng, thị trường và sinh kế phía sau cái tên ấy.
Một chỉ dẫn địa lý tốt phải khiến người tiêu dùng sẵn sàng trả tiền cao hơn vì họ tin tưởng. Đồng thời, người sản xuất phải hiểu rằng mỗi sản phẩm mang tên vùng đất của mình đều là một lần đặt cược vào uy tín của cả cộng đồng.