Sầu riêng đang đứng trước một bài toán không dễ: sản lượng và kim ngạch tăng nhanh nhưng thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn. Với một ngành hàng đã phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc, chỉ một mắt xích không đáp ứng yêu cầu cũng có thể tác động trực tiếp đến doanh nghiệp xuất khẩu và người trồng.
Vì vậy, câu chuyện truy xuất nguồn gốc đang được đẩy lên thành một phần quan trọng của năng lực cạnh tranh.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ chiều 3/9, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN-MT) Đặng Ngọc Điệp cho biết Bộ đã thực hiện truy xuất nguồn gốc trên hệ thống chuyển đổi số.
Theo đó, khách hàng trong nước và nước ngoài có thể truy cập chuỗi dữ liệu từ khâu trồng trọt, chăm sóc, bón phân của các loại nông sản, trong đó có sầu riêng.
“Vì vậy, niềm tin của khách hàng, nhất là khách hàng quốc tế đến từ Mỹ, Trung Quốc đều đánh giá cao”, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết.
Từ trái sầu riêng đến một chuỗi dữ liệu
Với doanh nghiệp xuất khẩu, truy xuất nguồn gốc không còn là một yêu cầu mang tính thủ tục. Nó ngày càng trở thành cách để chứng minh hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu.
![]() |
| Thực hiện truy xuất nguồn gốc trên hệ thống chuyển đổi số, khách hàng nước ngoài và khách hàng trong nước có thể truy cập được chuỗi các dữ liệu từ khâu trồng trọt, chăm sóc, bón phân… của các loại nông sản trong đó có sầu riêng. |
Các yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất và truy xuất nguồn gốc đang ngày càng chặt chẽ. Điều đó buộc cả người trồng, cơ sở đóng gói, doanh nghiệp xuất khẩu và những chủ thể khác trong chuỗi phải kiểm soát đồng bộ từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bảo quản đến đóng gói.
Nếu dữ liệu được cập nhật xuyên suốt, doanh nghiệp có thêm cơ sở kiểm soát nguồn nguyên liệu và chứng minh xuất xứ của sản phẩm. Cơ quan quản lý cũng có thêm công cụ để giám sát và cảnh báo sớm nguy cơ vi phạm.
Đây là lý do Bộ NN-MT xác định chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc là một trong những nhóm giải pháp trọng tâm để xây dựng ngành hàng sầu riêng phát triển ổn định, minh bạch và có giá trị cao hơn.
Hơn 1.800 mã vùng trồng
Một mắt xích khác đang được tháo gỡ là mã số vùng trồng.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 31/7/2026, đã đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Cùng với đó, việc phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ hơn cho địa phương trong cấp mã số vùng trồng đã được triển khai.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, điều này góp phần tháo gỡ khó khăn cho những vùng trồng sầu riêng, trong đó có tình trạng trồng xen canh.
Đáng chú ý, sau buổi làm việc của lãnh đạo Bộ NN-MT với Tổng cục Hải quan Trung Quốc ngày 14/8, phía Trung Quốc đã cấp thêm 567 mã vùng trồng sầu riêng cho Việt Nam, nâng tổng số lên hơn 1.800 mã vùng trồng.
Con số này có ý nghĩa trực tiếp với hoạt động xuất khẩu. Khi thị trường nhập khẩu yêu cầu ngày càng cao về nguồn gốc và kiểm soát chất lượng, vùng trồng được quản lý, cấp mã và theo dõi đúng quy định sẽ trở thành điều kiện quan trọng để doanh nghiệp duy trì dòng hàng.
Nhưng mở rộng mã vùng trồng chỉ là một phần của câu chuyện.
Mục tiêu 4 tỷ USD đặt ra bài toán lớn hơn
Trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu sầu riêng ước đạt 1,95 tỷ USD. Riêng Trung Quốc đóng góp khoảng 1,85 tỷ USD, tương đương khoảng 95% thị phần xuất khẩu.
Kết quả này cho thấy sức hút rất lớn của sầu riêng Việt Nam, đồng thời cũng chỉ ra một điểm yếu: mức độ phụ thuộc thị trường còn cao.
![]() |
| Sầu riêng Việt Nam đang tạo ra sức hút rất lớn trên thị trường quốc tế nhờ lợi thế thu hoạch rải vụ quanh năm, vị trí địa lý gần thị trường lớn như Trung Quốc và kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng bứt phá ước đạt 1,95 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2026. |
Thái Lan, Malaysia, Philippines và Campuchia đều đang tăng sức cạnh tranh. Thái Lan và Malaysia đẩy mạnh sầu riêng đông lạnh; Malaysia có lợi thế với giống Musang King; Campuchia mở rộng vùng trồng gắn với chuẩn hóa sản xuất.
Trong khi đó, tại Việt Nam, diện tích sầu riêng tăng nhanh nhưng ở một số nơi chưa gắn chặt với tổ chức chuỗi giá trị. Việc mở rộng vùng trồng còn có tính tự phát, chưa đồng bộ với điều kiện đất đai, nguồn nước, hạ tầng và khả năng tổ chức vùng nguyên liệu.
Công nghệ bảo quản, chế biến cũng chưa đồng bộ. Hoạt động xuất khẩu hiện vẫn chủ yếu dựa vào quả tươi, bảo quản lạnh và cấp đông. Một số cơ sở đã sử dụng công nghệ cấp đông nhanh bằng nitơ lỏng hoặc máy ICE COOL để duy trì chất lượng, nhưng chi phí cao và chưa phổ biến.
Đó là những điểm nghẽn phải giải quyết nếu mục tiêu kim ngạch xuất khẩu sầu riêng khoảng 4 tỷ USD trong năm 2026 được đặt ra.
Không thể chỉ “gỡ khó” khi hàng gặp vấn đề
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, xuất khẩu sầu riêng cần chuyển từ tư duy “gỡ khó khi phát sinh” sang chủ động các biện pháp để thúc đẩy ngành hàng có giá trị cao này.
Cách tiếp cận này đòi hỏi tổ chức lại sản xuất và xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, rà soát vùng sản xuất phù hợp với đất đai, nguồn nước, khí hậu và hạ tầng.
Các vùng nguyên liệu tập trung cũng phải gắn với sơ chế, chế biến, bảo quản, tiêu thụ và xuất khẩu. Liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cần được củng cố, trong đó khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu và từng bước xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.
Ở phía thị trường, Bộ NN-MT tiếp tục thúc đẩy xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; đàm phán để tăng thị phần tại những thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Australia, New Zealand.
Xuất khẩu sầu riêng đông lạnh và sản phẩm chế biến cũng được định hướng đẩy mạnh tại những thị trường phù hợp. Đây là hướng đi có thể giúp giảm sự phụ thuộc vào quả tươi và mở thêm dư địa gia tăng giá trị.
Chất lượng phải được chứng minh bằng dữ liệu
Một vấn đề khác được đặt ra là năng lực kiểm nghiệm.
Bộ NN-MT cho biết sẽ tiếp tục mở rộng và nâng cao năng lực hệ thống phòng kiểm nghiệm, xã hội hóa và mở rộng các phòng đủ điều kiện; ưu tiên thiết bị, năng lực kiểm nghiệm đối với hàm lượng Cadimi, Vàng O và những chỉ tiêu theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Cùng với đó là hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ, phương pháp kiểm nghiệm đáp ứng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu.
Việc lấy mẫu tại một số lô hàng hiện vẫn có nguy cơ chưa bảo đảm tính đại diện, nhất là với những lô hàng không đồng nhất. Nếu kết quả kiểm nghiệm thiếu độ chính xác, độ tin cậy, rủi ro không chỉ nằm ở một lô hàng mà còn có thể ảnh hưởng đến khả năng duy trì công nhận phòng kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu.
Do đó, Bộ NN-MT sẽ tiếp tục chuẩn hóa quy trình, đẩy mạnh số hóa, rút ngắn thời gian và nâng cao độ tin cậy của kết quả kiểm nghiệm; đồng thời công khai quy trình, thời gian, chi phí và tăng cường đào tạo, cập nhật kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc tế cho đội ngũ kiểm nghiệm viên và cán bộ quản lý.
Với sầu riêng, dữ liệu truy xuất, mã vùng trồng, kiểm nghiệm và kiểm soát chuỗi đang dần kết nối thành một hệ thống. Đó cũng là cách ngành hàng này chuyển từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng và khả năng chứng minh chất lượng.
Mục tiêu 4 tỷ USD vì thế không chỉ phụ thuộc vào việc trồng thêm bao nhiêu diện tích hay xuất thêm bao nhiêu tấn hàng. Bài toán lớn hơn là xây dựng một chuỗi đủ minh bạch để thị trường tin tưởng, đủ chuẩn hóa để doanh nghiệp yên tâm ký hợp đồng và đủ năng lực chế biến, logistics để giữ lại nhiều hơn giá trị của trái sầu riêng.
Nếu làm được điều đó, sầu riêng Việt Nam sẽ có cơ sở vững hơn để giữ thị trường lớn hiện tại, đồng thời mở thêm những cánh cửa mới thay vì phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.