Ở những vùng sản xuất nông nghiệp, chế biến gỗ hay tre nứa, không khó bắt gặp những đống phụ phẩm nằm bên đường. Mùn cưa, vỏ cây, cành nhánh, phế phẩm tre nứa... trước đây thường được xem là thứ bỏ đi và vốn gây ô nhiễm môi trường không ít, cao lắm thì tận dụng làm chất đốt.
![]() |
| Đốt rơm rạ sau thu hoạch ngay trên đồng ruộng là tập quán của nhiều nông dân nhưng không chỉ gây ô nhiễm môi trường, mà bỏ đi thứ phế phụ phẩm có giá trị, có thể làm than sinh học. Ảnh: PV |
Nhưng thị trường carbon đang làm thay đổi cách nhìn về những thứ tưởng như không còn giá trị ấy và ít ra, đã và đang diễn ra ở Việt Nam.
Một tấn phụ phẩm có thể được đưa vào lò nhiệt phân, biến thành than sinh học (gọi là biochar). Một phần carbon thay vì theo phế phụ phẩm quay trở lại khí quyển có thể được giữ lại trong vật liệu biochar đáng giá cho nông nghiệp. Nếu quá trình đó được đo đếm và xác minh đúng chuẩn, lượng carbon được lưu giữ có thể trở thành tín chỉ carbon, bán ra thị trường trong nước và thế giới, vốn đang đắt tiền vì đây là tín chỉ “carbon loại bỏ” (carbon removal).
Từ một đống phế phẩm, xuất hiện một loại tài sản mới và đó là ý tưởng đáng chú ý phía sau “Dự án mạng lưới biochar phân tán” mà Bamboo King Vina (BKV) đang đề xuất cho cả nước. BKV là doanh nghiệp có nhà máy chế biến tre gỗ ở Thanh Hóa và nay có thêm biochar từ chính phế phụ phẩm của mình đang đề xuất.
Theo tính toán của doanh nghiệp, mạng lưới cả nước có thể gồm 210 dây chuyền nhiệt phân, mỗi dây chuyền công suất khoảng 1.500 tấn biochar mỗi năm. Tổng sản lượng dự kiến khoảng 315.000 tấn biochar/năm. Nếu mỗi tấn biochar tạo ra khoảng 2 tín chỉ carbon, toàn mạng lưới có thể hình thành khoảng 630.000 tín chỉ mỗi năm.
| Giá tín chỉ carbon từ biochar trên thị trường quốc tế hiện phổ biến trong khoảng 100-150 USD/tấn CO₂ tương đương (gọi là CO₂e ), tùy tiêu chuẩn, chất lượng và dự án. Puro.earth ghi nhận khoảng 135,35 euro/tấn CO₂e, trong khi S&P Global/Platts đánh giá biochar Mỹ khoảng 148-150 USD/tấn CO₂e; biochar công nghiệp Ấn Độ khoảng 140-160 USD/tấn, loại thủ công khoảng 100-120 USD/tấn. |
Và nếu lấy mức giá giả định 110 USD/tín chỉ, nên nhớ tín chỉ “carbon loại bỏ” có giá cao trên thị trường thế giới, khác với tín chỉ carbon rừng 5-10 USD/tín chỉ mà nhiều người thường thấy, thì giá trị carbon của mạng lưới lên tới khoảng 69,3 triệu USD mỗi năm.
Nhưng, sẽ có rất nhiều người, doanh nghiệp sẽ cho rằng vấn đề không nằm ở phép nhân 630.000 với 110 USD. Điều đáng quan tâm là liệu một mạng lưới gồm hàng trăm điểm sản xuất biochar phân tán có đủ khả năng biến lượng carbon đó thành một loại tài sản được thị trường công nhận và sẵn sàng trả tiền hay không.
Biochar thực ra không mới, công nghệ nhiệt phân sinh khối trong điều kiện hạn chế oxy đã được sử dụng từ lâu. Điều mới nằm ở chỗ thị trường carbon đang tìm cách định lượng phần carbon được lưu giữ trong biochar và biến nó thành giá trị kinh tế.
![]() |
| Xưởng sản xuất than sinh học (biochar) của Công ty Bamboo King Vina ở Thanh Hóa. Ảnh: DN cung cấp |
Verra, tổ chức đánh giá và cấp chứng nhận đủ tiêu chuẩn tín chỉ carbon của Mỹ, đã có phương pháp VM0044 dành cho các dự án sử dụng biochar trong đất và một số ứng dụng ngoài đất. Tổ chức đánh giá Puro.earth cũng phát triển hệ thống chứng nhận tín chỉ “carbon loại bỏ” từ biochar.
Nhưng, không phải cứ làm ra một tấn biochar là có một tín chỉ carbon. Giữa một tấn biochar và một tín chỉ carbon là cả một hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm tra, cấp chứng nhận…
Những câu hỏi mà nhà đầu tư phải trả lời là nguyên liệu từ đâu, có đúng là phế phẩm hay không, lượng sinh khối đưa vào lò là bao nhiêu, nhiệt phân ở điều kiện nào, sản lượng biochar thực tế bao nhiêu, trong biochar còn lại bao nhiêu carbon, bao nhiêu phát thải phát sinh từ vận chuyển, năng lượng và các công đoạn liên quan?
Cuối cùng, lượng biochar ấy được đưa đi đâu và carbon được lưu giữ trong bao lâu? Mỗi câu hỏi đều cần dữ liệu, sổ sách và phải đủ tin cậy để một bên độc lập có thể kiểm chứng.
Nói cách khác, giá trị của biochar không chỉ nằm ở màu đen của than sinh học, mà giá trị lớn hơn nằm trong dữ liệu phía sau mỗi tấn biochar.
Nếu nhìn từ câu chuyện Bamboo King Vina, tiềm năng biochar của Việt Nam nằm ở một lợi thế rất đặc biệt: chúng ta có nguồn nguyên liệu đầu vào của biochar chính là phế phụ phẩm trong nông nghiệp, trong chế biến tre nứa… rất dồi dào và liên tục phát sinh, nhưng phần lớn chưa được khai thác theo hướng tạo giá trị cao.
Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2035 của Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường hồi cuối năm ngoái đã chính thức đặt biochar vào trung tâm của lựa chọn này. Theo đề án, đến năm 2035, lĩnh vực trồng trọt phải giảm ít nhất 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với năm cơ sở 2020, đồng thời hình thành các mô hình canh tác có khả năng phát triển tín chỉ carbon và nhân rộng trên quy mô vùng.
Đây không còn là mục tiêu định tính, mà đã được cụ thể hóa bằng yêu cầu xây dựng hệ thống đo đếm, cơ sở dữ liệu phát thải và các gói kỹ thuật canh tác giảm phát thải cho cây trồng chủ lực.
Trong bức tranh đó, biochar nổi lên như một giải pháp “hai trong một”. Một mặt, biochar là công cụ xử lý phụ phẩm trồng trọt theo hướng kinh tế tuần hoàn. Mặt khác, đây là vật liệu có khả năng lưu trữ carbon bền vững trong đất, đồng thời góp phần giảm phát thải CH₄ và N₂O – hai loại khí nhà kính chính của sản xuất nông nghiệp.
![]() |
| Than sinh học không chỉ lưu giữ carbon mà còn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. |
Theo thống kê, Việt Nam phát sinh khoảng 93,61 triệu tấn phụ phẩm trồng trọt mỗi năm, trong đó rơm rạ chiếm hơn 35 triệu tấn, trấu gần 9 triệu tấn, bùn bã khoảng 6,2 triệu tấn, vỏ cà phê 1,4 triệu tấn, mùa cưa… Phần lớn lượng vật chất này, nhiều người xem là rác thải, phế phẩm, hiện vẫn được đốt bỏ, chôn lấp hoặc sử dụng nhưng giá trị thấp.
Nhưng, câu chuyện không đơn giản là có nguồn “nguyên liệu đầu vào” là có biochar, bởi nó nằm rải rác khắp nơi, trên đồng ruộng, trang trại, trong nhà máy… Đây vừa là điểm yếu, vừa có thể trở thành lợi thế của biochar kiểu mạng lưới như BKV gợi ý ở phần đầu bài viết. Thay vì vận chuyển hàng triệu tấn sinh khối ẩm, cồng kềnh về một nhà máy lớn, có thể đưa các thiết bị nhiệt phân đến gần vùng nguyên liệu. Phụ phẩm được xử lý tại chỗ, giảm áp lực đốt bỏ, tạo ra biochar.
Mục tiêu không chỉ là sản xuất biochar mà còn tính toán khả năng sản xuất bền vững, tác động đến đất, phát thải, thu nhập và việc làm. Điều này cho thấy biochar có thể đi xa hơn một sản phẩm cải tạo đất.
Nó có thể trở thành mắt xích giữa nông nghiệp, kinh tế tuần hoàn và thị trường carbon. Nếu lượng carbon được lưu giữ trong biochar đáp ứng phương pháp, tiêu chuẩn và hệ thống chứng nhận phù hợp, sản phẩm vật chất có thể là than biochar có thể song hành cùng một tài sản vô hình là tín chỉ carbon.
Nhưng không nên nhầm “tiềm năng nguyên liệu” với “tiềm năng tín chỉ”. Việt Nam có thể có hàng chục triệu tấn phụ phẩm, nhưng không phải toàn bộ đều phù hợp để sản xuất than sinh học biochar. Một phần phải được giữ lại cho đất, thức ăn chăn nuôi hoặc các mục đích sử dụng khác. Phụ phẩm cũng có độ ẩm, thành phần và đặc tính khác nhau. Chi phí thu gom, vận chuyển và sơ chế có thể quyết định dự án có hiệu quả hay không.
Nói ngắn gọn, tiềm năng lớn nhất của than sinh học biochar Việt Nam không nằm ở việc chúng ta có bao nhiêu đống rơm, trấu hay mùn cưa, mà nằm ở khả năng biến những thứ đang phân tán ấy thành nguyên liệu, sản phẩm và dữ liệu carbon trong cùng một chuỗi giá trị.
Và nếu làm được điều đó, “rác thải nông nghiệp” có thể không còn gọi là rác thuần túy nữa.