Khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào lãi suất hay chính sách tín dụng của ngân hàng. Một trong những vấn đề được đặt ra là chất lượng thông tin tài chính mà doanh nghiệp cung cấp với bên cho vay.
Tại phiên thảo luận ở Hội trường Quốc hội ngày 31/10, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Đức Ấn đã chỉ ra những hạn chế trong khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu minh bạch hoạt động tài chính để ngân hàng có cơ sở đánh giá và cấp vốn.
Hơn 4 triệu tỷ đồng vốn tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo thông tin Thống đốc Phạm Đức Ấn công bố tại Quốc hội, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp Việt Nam. Đây là khu vực có vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm, nhưng cũng gặp không ít trở ngại khi tìm kiếm nguồn vốn ngân hàng.
![]() |
| Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn: "Khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế do quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu yếu, phương án kinh doanh thường xuyên biến động và thông tin tài chính chưa minh bạch" - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc. |
Đáng chú ý, dư nợ tín dụng dành cho nhóm doanh nghiệp này đã đạt hơn 4 triệu tỷ đồng. Con số cho thấy các tổ chức tín dụng đã dành nguồn vốn đáng kể cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, quy mô vốn được cấp không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều có thể dễ dàng tiếp cận khoản vay mới hoặc mở rộng hạn mức tín dụng.
Thống đốc chỉ ra một số nguyên nhân khiến doanh nghiệp gặp khó khi vay vốn, gồm quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu còn hạn chế, phương án kinh doanh thường xuyên biến động và thông tin tài chính chưa thực sự minh bạch.
Đây cũng là những vấn đề được đề cập trong Tờ trình số 734 về dự án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa mà Thống đốc dẫn chiếu tại phiên thảo luận.
Từ thực tế này, yêu cầu đặt ra không chỉ là tìm cách giảm chi phí vốn mà còn phải cải thiện chất lượng quản trị doanh nghiệp. Khi ngân hàng không có đủ thông tin để đánh giá tình hình tài chính, dòng tiền và khả năng trả nợ, việc thẩm định khoản vay sẽ gặp nhiều khó khăn.
Không thể duy trì hai hệ thống sổ sách khi vay ngân hàng
Một trong những nội dung đáng chú ý trong phát biểu của Thống đốc Phạm Đức Ấn là tình trạng doanh nghiệp sử dụng hai hệ thống bảng cân đối kế toán khác nhau: một hệ thống phục vụ kê khai, thực hiện nghĩa vụ thuế và một hệ thống cung cấp cho ngân hàng khi đề nghị vay vốn.
Theo người đứng đầu NHNN, cách làm này khiến tổ chức tín dụng khó đánh giá chính xác sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Trên thực tế, báo cáo tài chính không chỉ là tài liệu phục vụ nghĩa vụ kế toán, thuế mà còn là căn cứ để ngân hàng xem xét năng lực hoạt động, hiệu quả kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc minh bạch doanh thu, chi phí, công nợ và dòng tiền càng có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ sở giúp ngân hàng nhận diện khả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh, thay vì chỉ dựa vào quy mô tài sản hoặc tài sản bảo đảm.
Khi thông tin tài chính được phản ánh thống nhất và đầy đủ, doanh nghiệp có thêm cơ sở chứng minh năng lực vay vốn. Ngược lại, sự thiếu nhất quán trong sổ sách có thể làm gia tăng rủi ro thẩm định, khiến quá trình tiếp cận tín dụng trở nên khó khăn hơn.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp phải coi minh bạch tài chính là một phần của năng lực cạnh tranh, thay vì chỉ thực hiện khi phát sinh nhu cầu vay ngân hàng.
NHNN khuyến khích ngân hàng hỗ trợ, nhưng không hạ chuẩn cho vay
Ở phương diện điều hành, NHNN cho biết đã tổ chức hội nghị với Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tìm giải pháp giảm lãi suất và cải thiện khả năng tiếp cận vốn.
Cơ quan quản lý cũng khuyến khích các tổ chức tín dụng xem xét hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ hoặc kéo dài thời gian trả nợ đối với những trường hợp phù hợp.
Theo Thống đốc, các nội dung này đã được quy định trong pháp luật và Thông tư 39, thuộc thẩm quyền xem xét của từng tổ chức tín dụng. Việc hỗ trợ cần căn cứ vào tình hình hoạt động thực tế và khả năng trả nợ của khách hàng.
Nguyên tắc này gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Bởi ngân hàng hoạt động với tư cách trung gian tài chính, sử dụng tiền gửi của người dân để cấp tín dụng và phải bảo đảm khả năng thu hồi vốn.
Do đó, hỗ trợ doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc cấp vốn bằng mọi giá hoặc bỏ qua các tiêu chuẩn đánh giá rủi ro.
Dòng vốn vẫn ưu tiên sản xuất, kinh doanh
Bức tranh tín dụng được Thống đốc cung cấp tại Quốc hội cũng cho thấy sự phân bổ vốn giữa các lĩnh vực của nền kinh tế.
Cụ thể, tăng trưởng tín dụng chung đạt khoảng 12,27%, trong khi tín dụng bất động sản tăng 9,84%, thấp hơn mức tăng trưởng chung. Trong tổng dư nợ tín dụng hơn 20,879 triệu tỷ đồng, 77,44% được dành cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Về lãi suất, lãi suất huy động tăng 1,42%, còn lãi suất cho vay tăng 0,99%, cho thấy chênh lệch giữa hai mức lãi suất đang thu hẹp.
Những con số này phản ánh yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ phải dung hòa giữa ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng.
NHNN cũng đang hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng thông qua tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở; đồng thời xây dựng gói tái cấp vốn cho vay nhà ở xã hội theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Với cộng đồng doanh nghiệp, thông điệp đáng chú ý từ phiên thảo luận Quốc hội lần này là cơ hội tiếp cận vốn không chỉ nằm ở chính sách của ngân hàng. Năng lực quản trị, tính minh bạch và khả năng chứng minh dòng tiền sẽ ngày càng có ý nghĩa trong quá trình thẩm định tín dụng.
