Đây là lúc chúng ta cần nhìn lại cách xây dựng chính sách đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Sau gần 10 năm thực hiện Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, Chính phủ đang đề xuất xây dựng Luật Phát triển DNNVV, với một thay đổi đáng chú ý: chuyển từ tư duy “hỗ trợ doanh nghiệp” sang “kiến tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển”. Dự thảo cũng đặt mục tiêu chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ theo nhu cầu và theo lộ trình trưởng thành của doanh nghiệp.
Tôi cho rằng đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi, đây phải là sự thay đổi về triết lý làm chính sách.
Trong thực tế hoạt động của cộng đồng DNNVV, câu hỏi thường được đặt ra là doanh nghiệp được hỗ trợ bao nhiêu, bằng hình thức nào, chương trình nào.
Tôi nghĩ cần đặt câu hỏi khác: Sau khi được hỗ trợ, doanh nghiệp có lớn lên không?
![]() |
| Ông Phạm Hải Tùng, tác giả bài báo (bên phải ảnh), cùng ban lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chụp ảnh lưu niệm cùng Thủ tướng Lê Minh Hưng tại Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập của hiệp hội này. Ảnh: Tư liệu |
Doanh thu có tăng không? Năng suất có tăng không? Có thêm thị trường mới không? Có tham gia được chuỗi cung ứng của doanh nghiệp lớn không? Có xuất khẩu được không? Có tạo thêm việc làm không? Có đầu tư công nghệ để nâng chất lượng sản phẩm không?
Nếu câu trả lời là chưa, thì chính sách hỗ trợ cần được xem lại. Đây cũng là hướng mà dự thảo Luật Phát triển DNNVV đang đặt ra khi chuyển thước đo từ số lượng doanh nghiệp được hỗ trợ sang sự phát triển và khả năng hấp thụ của doanh nghiệp sau hỗ trợ. Quản lý chính sách cũng được định hướng chuyển từ quy trình, thủ tục sang quản lý bằng dữ liệu, kết quả và trách nhiệm giải trình.
Tôi cho rằng đây là hướng đúng. Một doanh nghiệp nhỏ không cần Nhà nước làm thay. Doanh nghiệp cần một môi trường để tự làm tốt hơn.
Nhà nước có thể hỗ trợ đào tạo, tư vấn, công nghệ, vốn, thị trường. Nhưng đích đến phải là nâng năng lực của doanh nghiệp, chứ không phải tạo ra một vòng đời mà doanh nghiệp phải liên tục đi tìm chương trình hỗ trợ mới.
Điều tôi quan tâm nhất ở đạo luật mới là khả năng tạo ra “đường băng tăng trưởng” cho doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có thể bắt đầu từ hộ kinh doanh. Sau đó trở thành doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và nếu có năng lực thì trở thành doanh nghiệp lớn.
Dự thảo luật đã đặt vấn đề hỗ trợ theo chính quá trình trưởng thành này, từ hộ kinh doanh lên doanh nghiệp, từ siêu nhỏ lên nhỏ, từ nhỏ lên vừa và từ vừa lên lớn.
Nhưng để ý tưởng này đi vào cuộc sống, chính sách phải giải quyết được một nghịch lý.
Doanh nghiệp càng lớn thì nghĩa vụ tuân thủ càng nhiều. Nếu mỗi bước tăng quy mô lại kéo theo một “vách đá chính sách”, hàng núi thủ tục phiền hà, doanh nghiệp sẽ có xu hướng giữ quy mô nhỏ cho nhẹ người.
Một doanh nghiệp doanh thu vài chục tỉ đồng có thể chưa đủ nguồn lực để xây dựng bộ máy pháp chế, kế toán, nhân sự, công nghệ, truyền thông – thương hiệu và quản trị như doanh nghiệp lớn. Nếu mọi yêu cầu quản trị được áp dụng cứng nhắc ngay khi doanh nghiệp vượt một ngưỡng nào đó, chi phí sẽ tăng rất nhanh.
Vì vậy, tôi cho rằng luật mới cần thiết kế các giai đoạn chuyển tiếp.
Doanh nghiệp từ siêu nhỏ lên nhỏ cần một cơ chế. Từ nhỏ lên vừa cần một cơ chế khác. Từ vừa lên lớn lại cần một cơ chế khác. Đó không phải ưu đãi mãi cho doanh nghiệp nhỏ, mà là tạo điều kiện để doanh nghiệp đủ sức bước sang cấp độ mới.
Với cộng đồng doanh nghiệp phía Nam, một trong những vấn đề thực tế nhất vẫn là dòng tiền.
Một doanh nghiệp có đơn hàng nhưng thiếu vốn lưu động thì không thể nhận đơn hàng. Có thị trường nhưng thiếu vốn đầu tư máy móc thì không thể nâng công suất. Có công nghệ nhưng không đủ khả năng đầu tư thì không thể cải thiện năng suất.
Vì vậy, nói doanh nghiệp tiếp cận tín dụng chưa đủ. Cần hỏi lớn hơn nhiều là vì sao doanh nghiệp chưa tiếp cận được tín dụng.
Một doanh nghiệp nhỏ thường thiếu tài sản thế chấp, lịch sử tín dụng chưa dài, báo cáo tài chính – dòng tiền chưa đủ mạnh và hệ thống quản trị chưa hoàn chỉnh. Trong khi đó, ngân hàng cần cơ sở để đánh giá rủi ro.
Khoảng cách này cần được thu hẹp bằng dữ liệu. Dữ liệu về doanh thu, hóa đơn điện tử, nghĩa vụ thuế, dòng tiền, lịch sử giao dịch và tín dụng có thể trở thành một phần cơ sở để đánh giá năng lực doanh nghiệp. Khi dữ liệu được kết nối tốt hơn, khả năng đánh giá tín nhiệm cũng có thể bớt phụ thuộc vào tài sản thế chấp.
Dự thảo Luật Phát triển DNNVV đã đặt vấn đề kết nối, chia sẻ dữ liệu doanh nghiệp và số hóa quy trình hỗ trợ. Đây là hướng cần được làm mạnh hơn nữa.
Mục tiêu cuối cùng là doanh nghiệp tốt phải có cơ hội tiếp cận vốn tốt hơn.
Ở khu vực phía Nam, câu chuyện mặt bằng sản xuất kinh doanh không thể xem là vấn đề phụ. Một doanh nghiệp sản xuất muốn mở rộng phải có nhà xưởng. Doanh nghiệp logistics cần kho. Doanh nghiệp chế biến cần mặt bằng đáp ứng tiêu chuẩn. Doanh nghiệp công nghệ cũng cần không gian và hạ tầng phù hợp.
Thế nhưng ai cũng biết chi phí mặt bằng tại nhiều khu vực kinh tế năng động ở phía Nam như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai… rất cao.
![]() |
Nếu doanh nghiệp dành quá nhiều nguồn lực cho mặt bằng thì tất yếu phần vốn đầu tư dành cho máy móc, công nghệ, nghiên cứu và phát triển sẽ bị thu hẹp.
Do đó, chính sách phát triển DNNVV cần nhìn mặt bằng sản xuất như một yếu tố của năng lực cạnh tranh.
Không nên chỉ ghi trong luật rằng doanh nghiệp được “hỗ trợ mặt bằng”. Điều thiết thực hơn là thiết kế cơ chế để doanh nghiệp thực sự tiếp cận được các khu, cụm công nghiệp, không gian sản xuất và hạ tầng dùng chung với chi phí hợp lý.
Đặc biệt, ở khu vực phía Nam đang hình thành những không gian kinh tế có quy mô rất lớn. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển mạng lưới doanh nghiệp cung ứng, nhưng cũng đặt ra yêu cầu kết nối tốt hơn giữa doanh nghiệp lớn và DNNVV, hình thành các chuỗi, hệ sinh thái doanh nghiệp ngành hàng...
Việt Nam hiện có hơn 940.000 doanh nghiệp đang hoạt động và hơn 5 triệu hộ kinh doanh. Khu vực doanh nghiệp đóng góp khoảng 60% GDP, 98% tổng kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho khoảng 85% lao động cả nước, theo số liệu được Bộ Tài chính công bố năm ngoái.
Những con số này cho thấy DNNVV không phải một khu vực đứng bên lề nền kinh tế. Vấn đề là làm thế nào để khu vực này tạo ra giá trị cao hơn.
Theo tôi, chính sách cho doanh nghiệp nhỏ nên chuyển mạnh từ hỗ trợ từng doanh nghiệp sang hỗ trợ theo chuỗi, hệ sinh thái.
![]() |
| Ông Phạm Hải Tùng (hàng đầu thứ tư từ trái qua) cùng Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực phía Nam (ASMES) tiếp Hiệp hội Ô tô Xanh Gwangju (GAMA) đến từ Hàn Quốc. Ảnh: Tư liệu |
Một doanh nghiệp FDI lớn hoặc một tập đoàn trong nước có thể tạo ra nhu cầu đối với hàng trăm nhà cung ứng. Nếu DNNVV được hỗ trợ về tiêu chuẩn chất lượng, công nghệ, quản trị, tài chính và nhân lực để đáp ứng yêu cầu của những doanh nghiệp đứng đầu chuỗi, hiệu quả của chính sách sẽ lớn hơn nhiều.
Thay vì hỗ trợ một doanh nghiệp mua một thiết bị, có thể hỗ trợ cả một chương trình nâng cấp năng lực nhà cung ứng. Thay vì đào tạo chung chung, có thể đào tạo theo yêu cầu của từng ngành hàng.
Thay vì tổ chức kết nối cung cầu theo kiểu gặp gỡ, cần đi xa hơn: xác định doanh nghiệp nào đang cần nhà cung ứng, tiêu chuẩn nào cần đáp ứng và doanh nghiệp Việt Nam nào có khả năng tham gia.
Đây là cách biến chính sách hỗ trợ thành năng lực cạnh tranh thực tế.
Một vấn đề lớn hơn mà luật mới cần hướng tới là năng suất. Việt Nam không thể mãi tăng trưởng bằng cách có thêm nhiều doanh nghiệp nhưng quy mô và năng suất của từng doanh nghiệp không tăng tương ứng.
DNNVV muốn cạnh tranh trong giai đoạn mới phải thay đổi cách sản xuất, quản trị và bán hàng. Chuyển đổi số là một phần, tự động hóa là một phần, trí tuệ nhân tạo là một phần. Nhưng quan trọng hơn là khả năng quản trị.
Một doanh nghiệp có thể mua phần mềm nhưng vẫn quản trị thủ công. Có thể mua máy móc hiện đại nhưng quy trình sản xuất không thay đổi. Có thể mở gian hàng trực tuyến nhưng không xây dựng được thương hiệu.
Vì vậy, chính sách hỗ trợ công nghệ cần gắn với kết quả.
Hỗ trợ không nên chỉ dừng ở việc doanh nghiệp mua được thiết bị hay phần mềm. Cần quan tâm doanh thu, năng suất, chất lượng, tỷ lệ lỗi, mức tiêu hao năng lượng và khả năng tiếp cận thị trường thay đổi như thế nào sau đầu tư. Đây là cách đo hiệu quả mà thế giới đã và đang làm.
Cuối cùng, điều doanh nghiệp cần nhất từ một đạo luật không chỉ là tiền hỗ trợ. Đó là sự ổn định và khả năng dự đoán.
Một doanh nghiệp muốn đầu tư một dây chuyền sản xuất phải tính toán cho 5-10 năm. Muốn đào tạo nhân lực phải có kế hoạch nhiều năm. Muốn xây dựng thương hiệu xuất khẩu càng cần thời gian dài hơi hơn, hàng chục năm.
![]() |
| Ông Phạm Hải Tùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực phía Nam. Ảnh: Tư liệu |
Doanh nghiệp sẽ khó đầu tư dài hạn nếu chính sách thay đổi quá nhanh hoặc cách thực thi khác nhau giữa các địa phương.
Vì vậy, Luật Phát triển DNNVV cần tạo ra một khung chính sách ổn định, minh bạch và có khả năng dự đoán.
Đặc biệt, cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan thực thi. Chính sách tốt nhưng thực hiện chậm thì doanh nghiệp vẫn chịu chi phí. Một quy định đúng nhưng phải qua quá nhiều tầng thủ tục thì hiệu quả cũng giảm.
Tôi cho rằng khi Luật Phát triển DNNVV được ban hành, chúng ta cần một bộ chỉ số khác để đánh giá hiệu quả. Không chỉ hỏi có bao nhiêu doanh nghiệp được hỗ trợ mà nên tìm xem bao nhiêu doanh nghiệp tăng năng suất. Không nên đặt nặng bao nhiêu doanh nghiệp tăng doanh thu, mà là có nhiều không số doanh nghiệp tham gia được chuỗi cung ứng; chuyển đổi số thành công; thâm nhập và mở cửa bao nhiêu thị trường xuất khẩu mới.
Rồi đây sẽ có câu hỏi rằng bao nhiêu hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp và tồn tại sau 5 năm hay có bao nhiêu doanh nghiệp nhỏ lớn lên thành doanh nghiệp vừa và bao nhiêu doanh nghiệp vừa đủ sức trở thành doanh nghiệp lớn.
Trả lời thành công những câu hỏi đó, chứng tỏ chính sách đã đi đúng hướng.
Nhà nước không thể và cũng không cần làm thay doanh nghiệp. Nhưng Nhà nước có thể quyết định doanh nghiệp phải đi qua bao nhiêu cửa, mất bao nhiêu thời gian và chi phí để làm một việc hợp pháp.
Vì vậy, một đạo luật tốt không phải là đạo luật khiến doanh nghiệp nhận được nhiều hỗ trợ nhất. Một đạo luật tốt là đạo luật giúp doanh nghiệp cần ít hỗ trợ hơn sau mỗi giai đoạn phát triển.
Đó cũng là lúc DNNVV thực sự trở thành lực lượng quan trọng của nền kinh tế, không chỉ bằng số lượng, mà bằng năng suất, sức cạnh tranh và khả năng lớn lên.
-----------------------------
(*) Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực phía Nam