![]() |
| Sáng 31/10, tiếp tục phiên họp toàn thể tại hội trường, Quốc hội thảo luận sôi nổi về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027. Các đai biểu đề xuất nhiều giải pháp căn cơ nhằm khơi thông nguồn lực, hoàn thiện thể chế đặc thù cho các tỉnh miền núi, biên giới và thúc đẩy liên kết vùng, chú trọng chuyển hóa tiềm năng thành động lực tăng trưởng bền vững, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh - Ảnh: https://quochoi.vn |
Muốn kinh tế cửa khẩu trở thành động lực tăng trưởng, các địa phương không chỉ cần thêm đường giao thông hay công trình thông quan, mà còn phải có quỹ đất sẵn sàng, cơ chế lựa chọn nhà đầu tư phù hợp và hệ thống logistics kết nối với chuỗi sản xuất.
Đây là những vấn đề được các đại biểu Quốc hội đặt ra trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội sáng 31/10, với trọng tâm là khơi thông nguồn lực phát triển tại các tỉnh miền núi, biên giới.
Quỹ đất và thủ tục đầu tư quyết định sức hút của cửa khẩu
Từ thực tiễn Cao Bằng, đại biểu Đoàn Thị Lê An (Đoàn ĐBQH tỉnh Cao Bằng) cho rằng các cửa khẩu quốc tế Tà Lùng, Trà Lĩnh cùng tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh mở ra cơ hội tăng cường giao thương với Trung Quốc và khu vực ASEAN. Tuy nhiên, địa hình chia cắt, quỹ đất bằng hạn chế, chi phí đầu tư hạ tầng cao và thủ tục đất đai kéo dài đang cản trở khả năng thu hút dự án.
Một trong những khó khăn được đại biểu nêu là các khu vực có điều kiện phát triển logistics, kho bãi và thương mại thường xen kẽ đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở. Theo tổng hợp của địa phương, thời gian chuẩn bị mặt bằng đối với một số dự án có thể kéo dài 1,5-2 năm. Trong khi đó, nhà đầu tư cần quỹ đất sẵn sàng để triển khai dự án, tránh phát sinh chi phí và bỏ lỡ cơ hội kinh doanh.
Đại biểu kiến nghị Chính phủ nghiên cứu trình Quốc hội cơ chế thí điểm tạo lập quỹ đất sạch tại một số khu chức năng ưu tiên trong khu kinh tế cửa khẩu, trên cơ sở quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2.000 đã được phê duyệt.
![]() |
| Đại biểu Đoàn Thị Lê An - Ảnh: https://quochoi.vn |
Đề xuất này đi kèm những điều kiện kiểm soát cụ thể: giới hạn phạm vi áp dụng; ưu tiên dự án logistics, kho bãi và công trình quan trọng; xác định rõ căn cứ thu hồi đất vì lợi ích quốc gia, công cộng; có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nguồn vốn thực hiện. Việc khai thác quỹ đất sau thu hồi cũng phải được công khai, giám sát, gắn trách nhiệm với trường hợp chậm triển khai, gây lãng phí.
Đáng chú ý, đại biểu nhấn mạnh quy hoạch phân khu không thay thế các điều kiện pháp lý về thu hồi đất. Việc tạo lập mặt bằng phải gắn với ổn định đời sống, bảo đảm sinh kế cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới.
Bên cạnh đất đai, lựa chọn nhà đầu tư cũng là vấn đề cần được thiết kế thận trọng. Các khu kinh tế cửa khẩu miền núi cần doanh nghiệp có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm và khả năng tổ chức chuỗi dịch vụ. Tuy nhiên, theo đại biểu Đoàn Thị Lê An, không nên miễn đấu giá, đấu thầu chỉ dựa trên mức vốn đăng ký từ 500 tỷ đồng, bởi con số đăng ký chưa đủ chứng minh năng lực triển khai và hiệu quả dự án.
Đại biểu đề nghị việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược phải dựa trên danh mục, tiêu chí dự án ưu tiên; đánh giá năng lực tài chính, kinh nghiệm, tiến độ giải ngân, khả năng kết nối nguồn hàng, tạo việc làm và đóng góp cho địa phương. Quá trình lựa chọn cần công khai, có giám sát cam kết và cơ chế xử lý vi phạm. Nếu có nhiều nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu, cần tổ chức cạnh tranh phù hợp.
Về căn cứ pháp lý, Điều 23 và Điều 28 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 đã quy định các hình thức lựa chọn nhà đầu tư và thủ tục đầu tư đặc biệt trong phạm vi luật cho phép. Đại biểu đề nghị rà soát, vận dụng đầy đủ quy định hiện hành, đồng thời xác định rõ những nội dung thực sự cần cơ chế bổ sung. Những ngoại lệ khác luật phải được trình Quốc hội xem xét, quy định rõ điều kiện áp dụng, nghĩa vụ tài chính về đất đai và trách nhiệm giải trình.
Hạ tầng cửa khẩu phải gắn với chuỗi sản xuất và logistics liên vùng
Từ góc độ kết nối vùng, đại biểu Nguyễn Đăng Ân (Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn) cho rằng nhiệm vụ năm 2027 không chỉ là tiếp tục đầu tư hạ tầng cửa khẩu, mà còn phải khai thác hiệu quả các công trình sau khi hoàn thành.
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Đăng Ân - Ảnh: https://quochoi.vn |
Theo đại biểu, hạ tầng cửa khẩu chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi được kết nối với trung tâm logistics, công nghiệp chế biến, dịch vụ thương mại và vùng sản xuất. Nếu chỉ tập trung vào hoạt động xuất nhập khẩu tại khu vực biên giới, giá trị kinh tế tạo ra sẽ khó lan tỏa sâu vào nội địa.
Đại biểu đề xuất tăng cường liên kết giữa các địa phương có cửa khẩu đường bộ như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai với các địa phương có cửa khẩu cảng biển như Quảng Ninh, Hải Phòng. Việc tổ chức tốt kết nối giữa cửa khẩu với trung tâm sản xuất, chế biến và tiêu thụ trong nước có thể góp phần giảm chi phí logistics, nâng cao giá trị hàng hóa, mở rộng thị trường và tạo thêm việc làm.
Cùng với đó, cần hoàn thành đồng bộ các quy hoạch, thúc đẩy đầu tư cửa khẩu số, cửa khẩu thông minh, tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong quản lý, khai thác hạ tầng giao thông, logistics; đồng thời chú trọng thu hút đầu tư vào sản xuất.
Định hướng này cũng đặt ra yêu cầu về cách tổ chức không gian kinh tế tại các khu vực biên giới. Chẳng hạn, Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 25/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đến năm 2045, với quy mô 39.400 ha. Khu kinh tế được định hướng phát triển thành trung tâm dịch vụ cửa khẩu và hậu cần logistics quốc gia, quốc tế, kết nối Việt Nam, ASEAN với thị trường Trung Quốc.
Quy hoạch tạo cơ sở định hướng phát triển dài hạn, nhưng hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào tiến độ triển khai dự án, khả năng thu hút doanh nghiệp và sự đồng bộ giữa hạ tầng cửa khẩu với các khu vực sản xuất, chế biến, dịch vụ.
Phát triển kinh tế miền núi phải tính đến giá trị của rừng
Bên cạnh kinh tế cửa khẩu, đại biểu Tạ Thị Yên (Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên) đề cập một khía cạnh quan trọng trong phát triển vùng Trung du và miền núi phía Bắc: đóng góp của rừng đầu nguồn đối với an ninh nguồn nước, môi trường và đời sống kinh tế - xã hội.
![]() |
| Đại biểu Tạ Thị Yên - Ảnh: https://quochoi.vn |
Theo đại biểu, rừng đầu nguồn góp phần điều tiết dòng chảy, hạn chế xói mòn, sạt lở, bảo đảm nguồn nước cho sản xuất, sinh hoạt và hoạt động của các công trình thủy điện. Tuy nhiên, những giá trị này chưa phải lúc nào cũng được phản ánh đầy đủ trong các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của từng địa phương, trong khi người dân tham gia bảo vệ rừng vẫn còn nhiều khó khăn.
Đại biểu kiến nghị triển khai hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, bảo đảm công khai, minh bạch để cải thiện sinh kế cho người dân.
Về thu hút đầu tư nông nghiệp, đại biểu chỉ ra tình trạng chi phí vận chuyển cao, thiếu kho lạnh và dịch vụ logistics khiến nhiều địa phương khó thu hút doanh nghiệp vào chế biến, bảo quản nông sản. Vì vậy, cần ưu tiên các tuyến giao thông kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ; đồng thời phát huy lợi thế nông sản đặc sản, kinh tế rừng, dược liệu và du lịch.
Những kiến nghị tại Quốc hội cho thấy phát triển kinh tế cửa khẩu và miền núi cần được nhìn nhận trong một chỉnh thể liên kết. Quỹ đất sạch giúp dự án có thể triển khai; cơ chế đầu tư minh bạch tạo niềm tin cho doanh nghiệp; logistics và kết nối vùng quyết định khả năng hình thành chuỗi giá trị. Trong khi đó, bảo vệ rừng và bảo đảm sinh kế người dân là điều kiện để tăng trưởng không đánh đổi môi trường và sự ổn định lâu dài của khu vực biên giới.
Với các tỉnh miền núi, biên giới, bài toán không chỉ là mở rộng hạ tầng mà còn là tạo ra môi trường đầu tư đủ sức hấp dẫn để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào sản xuất, chế biến và thương mại. Khi những điểm nghẽn về thể chế, đất đai và kết nối được tháo gỡ đồng bộ, lợi thế cửa khẩu mới có cơ hội chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh và động lực phát triển thực chất.
