Một thiết bị phân tích hiện đại có thể trị giá hàng tỷ, hàng chục tỷ đồng, nhưng giá trị thực sự không nằm ở số tiền đầu tư mà ở khả năng khai thác và những kết quả tạo ra. Nếu thiết bị ít được sử dụng, thiếu nhân lực vận hành hoặc không kết nối với nhu cầu sản xuất, khoản đầu tư lớn vẫn khó chuyển hóa thành năng lực đổi mới công nghệ, có khi “đắp chiếu” xếp xó trong phòng thí nghiệm.
Đây là vấn đề cần được nhìn nhận khi Việt Nam thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đầu tư thiết bị, xây dựng phòng thí nghiệm mới, việc khai thác hiệu quả hạ tầng hiện có cũng là hướng đi đáng chú ý.
Tại analytica Vietnam Connect 2026, diễn ra ngày 21/10 tại Trung tâm Đào tạo Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh, câu chuyện kết nối hạ tầng nghiên cứu được đặt ra với chủ đề “Kết nối hạ tầng R&D: Từ phòng thí nghiệm dùng chung đến các bước đột phá công nghệ”.
![]() |
| Phòng thí nghiệm dùng chung mở ra cơ hội giảm chi phí R&D, tăng khả năng tiếp cận công nghệ và kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học. Ảnh: Dạ Quang |
Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đầu tư phòng thí nghiệm không phải quyết định dễ dàng. Ngoài chi phí mua thiết bị, doanh nghiệp còn phải tính đến mặt bằng, hệ thống phụ trợ, bảo trì, hiệu chuẩn, vật tư tiêu hao và nhân lực chuyên môn.
Trong khi đó, một số thiết bị chỉ được sử dụng theo từng đợt nghiên cứu hoặc kiểm nghiệm. Nếu nhu cầu không thường xuyên, chi phí đầu tư và duy trì có thể vượt quá lợi ích thu được.
Ở chiều ngược lại, các trường đại học và viện nghiên cứu có thể sở hữu thiết bị chuyên dụng nhưng chưa khai thác hết công suất. Nếu thiếu cơ chế kết nối, nguồn lực này chủ yếu phục vụ các nhiệm vụ nội bộ, trong khi doanh nghiệp vẫn phải tự đầu tư hoặc tìm kiếm dịch vụ bên ngoài.
Mô hình phòng thí nghiệm dùng chung có thể giúp thu hẹp khoảng cách đó. Thay vì mỗi đơn vị xây dựng một hệ thống riêng, nhiều tổ chức cùng tiếp cận hạ tầng, chia sẻ chi phí và tận dụng năng lực chuyên môn sẵn có.
Lợi ích đầu tiên là giảm áp lực vốn đầu tư. Doanh nghiệp có thể tiếp cận dịch vụ phân tích, thử nghiệm và kiểm định phù hợp mà không phải sở hữu toàn bộ thiết bị. Các cơ sở nghiên cứu cũng có thêm cơ hội khai thác năng lực hiện có, mở rộng hợp tác và tăng khả năng phục vụ nhu cầu bên ngoài.
Tuy nhiên, dùng chung không đồng nghĩa với khai thác hiệu quả. Nếu quy trình tiếp cận phức tạp, thời gian chờ kéo dài, chi phí dịch vụ thiếu cạnh tranh hoặc chất lượng kết quả không ổn định, doanh nghiệp khó có động lực sử dụng thường xuyên.
Vì vậy, cần đánh giá mô hình dựa trên hiệu quả vận hành, thay vì chỉ đếm số lượng thiết bị được đầu tư hoặc số phòng thí nghiệm tham gia mạng lưới. Mức độ sử dụng thiết bị, thời gian đáp ứng, chi phí dịch vụ và số dự án hợp tác với doanh nghiệp mới là những chỉ dấu đáng quan tâm.
Một điểm nghẽn của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và nhu cầu sản xuất. Viện nghiên cứu, trường đại học có chuyên gia và năng lực nghiên cứu, trong khi doanh nghiệp hiểu rõ yêu cầu công nghệ, chất lượng sản phẩm và thị trường. Tuy nhiên, việc kết nối hai nguồn lực này chưa phải lúc nào cũng thuận lợi.
Phòng thí nghiệm dùng chung có thể trở thành cầu nối nếu được tổ chức theo hướng đáp ứng nhu cầu thực tế. Chẳng hạn, doanh nghiệp thực phẩm cần phân tích nguyên liệu, đánh giá chất lượng hoặc phát triển công thức mới có thể tiếp cận thiết bị tại các cơ sở nghiên cứu thay vì tự đầu tư toàn bộ hệ thống.
Tại analytica Vietnam Connect 2026, sự tham gia của đại diện Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu triển khai Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh, Viện Vi mạch bán dẫn, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cùng các doanh nghiệp cho thấy tính liên ngành của bài toán này.
Theo bà Nguyễn Thị Thơ Mộng, Trưởng phòng Truyền thông và Hợp tác quốc tế, Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP. Hồ Chí Minh (SIHUB), hạ tầng nghiên cứu hiện còn phân tán, thiếu cơ sở dữ liệu dùng chung, gây khó khăn cho doanh nghiệp và startup tiếp cận thiết bị, dịch vụ kỹ thuật. Bốn điểm nghẽn chính gồm dữ liệu, thủ tục, chuỗi hỗ trợ kỹ thuật và cơ chế tài chính, quản lý tài sản công.
SIHUB được giao nghiên cứu hai nhiệm vụ: xây dựng mô hình FabLab vật lý và đề xuất mạng lưới phòng thí nghiệm dùng chung. Mô hình dự kiến có một đầu mối điều phối, kết nối các phòng thí nghiệm chuyên sâu, công khai năng lực thiết bị, biểu phí và thời gian khả dụng. Mục tiêu là giảm đầu tư trùng lặp, tận dụng công suất nhàn rỗi và giúp startup tiếp cận công nghệ với chi phí thấp hơn.
Theo SIHUB, ưu tiên là số hóa dữ liệu năng lực R&D, hoàn thiện cơ chế vận hành, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và chỉ đầu tư bổ sung vào những năng lực còn thiếu.
Trong khi đó, Trung tâm Nghiên cứu triển khai Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh cho biết mô hình Open Labs của cơ quan này hướng đến chuyển các phòng thí nghiệm từ vận hành khép kín sang nền tảng mở, tạo điều kiện để Nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cùng khai thác hạ tầng. Doanh nghiệp có thể đặt hàng nghiên cứu, góp nguồn lực phát triển sản phẩm, trong khi các cơ sở nghiên cứu cung cấp thiết bị và chuyên gia. Cách tiếp cận này nhằm giảm đầu tư trùng lặp, chia sẻ chi phí vận hành và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
![]() |
| Phòng thí nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu triển khai Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh. Nguồn: Silde trình bày tại analytica Vietnam Connect 2026. |
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là định hướng chiến lược quan trọng. Tinh thần này đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực nghiên cứu.
Với hạ tầng R&D, đầu tư thiết bị mới chỉ là điều kiện ban đầu. Muốn tạo ra năng lực đổi mới sáng tạo, cần đồng thời có nhân lực vận hành, cơ chế tài chính, quy trình quản lý và mạng lưới hợp tác đủ hiệu quả.
Một việc cần làm là xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực phòng thí nghiệm, bao gồm thiết bị, lĩnh vực chuyên môn, tiêu chuẩn chất lượng và điều kiện tiếp cận. Khi thông tin minh bạch, doanh nghiệp có thể tìm đúng đơn vị cung cấp dịch vụ, còn cơ quan quản lý có thêm cơ sở nhận diện những lĩnh vực thiếu hụt hoặc đầu tư trùng lặp.
Cơ chế tài chính cũng cần được tính toán phù hợp. Phí dịch vụ phải đủ bù đắp chi phí vận hành, bảo trì và nhân lực, nhưng không nên tạo rào cản quá lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp. Những nhiệm vụ nghiên cứu có tiềm năng lan tỏa cũng có thể được xem xét hỗ trợ theo các chương trình phù hợp.
Đối với hạ tầng sử dụng ngân sách nhà nước, quy trình tiếp cận và phân bổ thời gian sử dụng cần minh bạch, bảo đảm hiệu quả đầu tư và phù hợp với mục tiêu phục vụ cộng đồng nghiên cứu. Đồng thời, cơ chế khai thác dịch vụ phải được thiết kế để tránh xung đột giữa nhiệm vụ công và nhu cầu thương mại.
Không phải mọi phòng thí nghiệm đều có thể đánh giá bằng doanh thu. Những cơ sở phục vụ nghiên cứu cơ bản hoặc nhiệm vụ công ích có mục tiêu khác với phòng thí nghiệm cung cấp dịch vụ thương mại. Điều quan trọng là xác định rõ mục tiêu đầu tư, đối tượng phục vụ và kết quả kỳ vọng, từ đó lựa chọn thước đo phù hợp.
| Đồ họa: AI |
Từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm thương mại là một quá trình nhiều công đoạn. Công nghệ có thể cần tiếp tục hoàn thiện, thử nghiệm ở quy mô lớn hơn, đánh giá độ ổn định, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và tìm kiếm thị trường.
Do đó, phòng thí nghiệm dùng chung cần được đặt trong mạng lưới hỗ trợ đổi mới sáng tạo rộng hơn, kết nối với trung tâm nghiên cứu triển khai, cơ sở thử nghiệm, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và doanh nghiệp sản xuất. Nếu chỉ dừng ở khâu phân tích hoặc thử nghiệm ban đầu, mô hình chưa đủ để bảo đảm kết quả nghiên cứu được thương mại hóa.
Mạng lưới kết nối được SIHUB đề xuất gồm năm tầng chức năng, tương ứng với từng giai đoạn phát triển sản phẩm.
Tầng 1, không gian sáng tạo và tạo mẫu nhanh: phục vụ cá nhân, sinh viên và dự án hình thành ý tưởng, với năng lực thiết kế 3D, cắt laser, in 3D và chế tạo mạch điện tử cơ bản.
Tầng 2, FabLab và chế tạo mẫu cơ điện tử: hỗ trợ startup chế tạo nguyên mẫu hoạt động thông qua gia công CNC, in mạch PCB, IoT, cơ điện tử và robot.
Tầng 3, phòng thí nghiệm chuyên ngành: phục vụ nghiên cứu chuyên sâu về vi mạch, AI, dữ liệu lớn, y sinh, công nghệ sinh học và vật liệu mới.
Tầng 4, đo kiểm, hiệu chuẩn và sản xuất thử: hỗ trợ đo lường, kiểm định, chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy và thử nghiệm trước thương mại hóa.
Tầng 5, hạ tầng hỗ trợ thương mại hóa: hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ, định giá công nghệ, chuyển giao và kết nối quỹ đầu tư.
Analytica Vietnam Connect 2026 mở ra diễn đàn để các bên trao đổi về hướng kết nối này. Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng chuyển những cuộc thảo luận thành cơ chế hợp tác, dịch vụ nghiên cứu và dự án có đầu ra cụ thể.
| analytica Vietnam là triển lãm thương mại trong lĩnh vực công nghệ phòng thí nghiệm, phân tích và công nghệ sinh học, do Messe München tổ chức. Sự kiện quy tụ các chuyên gia, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và đại diện các cơ quan liên quan nhằm giới thiệu công nghệ, chia sẻ kiến thức chuyên môn và thúc đẩy hợp tác kinh doanh. Các hoạt động của triển lãm bao gồm trưng bày sản phẩm, hội nghị chuyên ngành, tham quan phòng thí nghiệm và kết nối giao thương. Kỳ triển lãm tiếp theo dự kiến diễn ra từ ngày 31/3 đến 2/4/2027 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), số 799 Nguyễn Văn Linh, TP. Hồ Chí Minh. analytica Vietnam thuộc chuỗi triển lãm analytica toàn cầu, do Messe München tổ chức, với các phiên bản tại nhiều thị trường như Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi, Mỹ và Việt Nam. |
