Thái Nguyên đang mở rộng năng lực logistics trong bối cảnh sản xuất công nghiệp và hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng mạnh. Với doanh nghiệp vận chuyển quặng, than, sắt thép, vật liệu xây dựng và các loại hàng nặng, việc có thêm đầu mối bốc xếp đường thủy có thể tạo ra lựa chọn vận tải mới, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào đường bộ.
Theo kế hoạch, ngày 29/10, Khu bến cảng bốc xếp hàng hóa Yên Bình sẽ được khởi công tại khu Mom Kiệu, phường Trung Thành, tỉnh Thái Nguyên. Dự án do Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Khai thác khoáng sản Thăng Long đầu tư, có tổng vốn hơn 435 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành vào quý III/2027.
![]() |
| Phối cảnh Khu bến cảng bốc xếp hàng hóa Yên Bình. |
Công trình có diện tích 24,92ha, gồm 10,05ha mặt nước và 14,87ha đất trên cạn; công suất bốc xếp, lưu chuyển theo thông tin công bố đạt 3,8–4,5 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Dự án được thiết kế có âu tàu, hệ thống tiếp nhận tàu, bến lưu chuyển và thiết bị bốc xếp đồng bộ. Theo chủ đầu tư, hạ tầng sẽ được xây dựng nhằm bảo đảm an toàn khai thác và hạn chế ảnh hưởng đến dòng chảy sông Cầu.
Thêm lựa chọn vận tải cho hàng hóa siêu trường siêu trọng
Lợi thế đáng chú ý của cảng Yên Bình nằm ở khả năng phục vụ nhóm hàng có khối lượng lớn nhưng giá trị trên mỗi đơn vị trọng lượng không cao, như quặng, than, phôi thép, vật liệu xây dựng và nguyên liệu gỗ, hàng hóa siêu trường siêu trọng. Đây cũng là những mặt hàng được xác định có nhu cầu vận chuyển phù hợp với tuyến đường thủy nội địa.
Với những lô hàng này, chi phí vận chuyển có thể ảnh hưởng đáng kể đến giá thành sản xuất và khả năng cạnh tranh. Khi tổ chức được các chuyến vận tải thủy với tải trọng phù hợp, doanh nghiệp có cơ hội chuyển một phần hàng hóa khỏi đường bộ, giảm nhu cầu sử dụng xe tải trên những chặng dài và hạn chế áp lực lên hạ tầng đường bộ.
Tuy nhiên, lợi ích tiết kiệm chi phí không tự động xuất hiện chỉ vì có cảng mới. Doanh nghiệp còn phải tính tổng chi phí từ kho hoặc nhà máy đến cảng, phí bốc xếp, thời gian chờ, vận tải thủy và chặng giao hàng cuối cùng. Cảng chỉ phát huy lợi thế khi tổng chi phí của cả hành trình cạnh tranh hơn phương án vận chuyển hiện tại.
Kết nối với mạng lưới cảng và tuyến hàng liên vùng
Theo định hướng được công bố, cảng Yên Bình sẽ kết hợp với cảng Đa Phúc trên sông Công, góp phần tăng cường vận tải đường thủy giữa Thái Nguyên với các cảng dọc sông Cầu, sông Thương, kết nối tới Bắc Ninh, Hà Nội và Hải Phòng. Đây là hướng phát triển có ý nghĩa với hoạt động vận chuyển hàng hóa từ khu vực công nghiệp phía Nam Thái Nguyên tới các đầu mối giao thương và cảng biển.
Nếu luồng vận tải được tổ chức ổn định, doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong lựa chọn phương thức vận chuyển theo từng loại hàng, khối lượng và thời hạn giao nhận. Đường bộ có thể đảm nhiệm chặng ngắn từ nhà máy đến cảng; đường thủy phù hợp với những chặng dài, hàng nặng và khối lượng lớn. Cách tổ chức này mở ra cơ hội vận tải đa phương thức, thay vì yêu cầu một phương tiện đường bộ thực hiện toàn bộ hành trình.
Cảng Yên Bình cũng có thể bổ sung năng lực cho mạng lưới cảng hiện hữu. Theo thông tin về Cụm cảng Đa Phúc, khu vực này có tám bến thủy nội địa phục vụ xếp dỡ, trung chuyển hàng hóa được cấp phép, với sản lượng qua bến ước khoảng 1,8 triệu tấn mỗi năm. Việc phát triển thêm một đầu mối có quy mô công suất lớn có thể giúp mở rộng lựa chọn khai thác, nhưng hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào khả năng phân bổ nguồn hàng và phối hợp giữa các cảng.
Nguồn hàng lớn tạo dư địa cho dịch vụ logistics
Cơ hội phát triển cảng gắn với nền tảng sản xuất và thương mại đang mở rộng của địa phương. Theo số liệu được công bố, trong chín tháng năm 2026, tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa của Thái Nguyên ước đạt 52,07 tỷ USD, tăng 34% so với cùng kỳ; trong đó, xuất khẩu đạt khoảng 30,38 tỷ USD.
Quy mô giao thương này cho thấy nhu cầu vận chuyển nguyên liệu đầu vào, hàng hóa phục vụ sản xuất và sản phẩm đầu ra rất lớn. Dù phần đáng kể giá trị xuất khẩu của Thái Nguyên đến từ nhóm điện tử, điện thoại, không phải tất cả hàng hóa đều phù hợp vận tải đường thủy, sự phát triển của công nghiệp, luyện kim, vật liệu và xây dựng vẫn tạo dư địa cho các cảng chuyên phục vụ hàng nặng.
Khi có thêm năng lực bốc xếp, lưu chuyển hàng hóa, khu vực quanh cảng có thể phát triển thêm các dịch vụ kho bãi, tập kết, đóng gói, vận tải trung chuyển và giao nhận. Đây là cơ hội để doanh nghiệp logistics địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, thay vì chỉ cung cấp dịch vụ vận tải đơn lẻ.
Định hướng này phù hợp với kế hoạch phát triển logistics của Thái Nguyên đến năm 2035, tầm nhìn 2050, trong đó tỉnh chú trọng kết nối đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không, đồng thời phát triển các trung tâm logistics gắn với khu công nghiệp và vùng sản xuất.
Hiệu quả phụ thuộc vào kết nối và nguồn hàng thực tế
Dù có tiềm năng, cảng Yên Bình vẫn cần giải quyết những điều kiện quyết định hiệu quả khai thác. Trước hết là bảo đảm đường bộ kết nối thuận lợi từ khu công nghiệp, nhà máy và vùng nguyên liệu tới cảng; tổ chức đủ mặt bằng tập kết, kho chứa và thiết bị bốc xếp; đồng thời duy trì luồng tuyến đáp ứng yêu cầu vận tải an toàn.
Một cảng có công suất thiết kế lớn chưa đồng nghĩa sẽ đạt sản lượng tương ứng ngay khi vận hành. Khả năng khai thác còn phụ thuộc vào hợp đồng với chủ hàng, lịch tàu, chi phí vận tải hai đầu và mức độ phối hợp với các cảng, trung tâm logistics khác. Nếu thiếu nguồn hàng ổn định hoặc chặng kết nối đường bộ chưa thuận tiện, lợi thế của vận tải thủy có thể bị giảm sút.
Theo kế hoạch hiện nay, cảng Yên Bình dự kiến hoàn thành vào quý III/2027. Khi đi vào hoạt động, công trình có thể bổ sung một mắt xích quan trọng cho vận tải hàng hóa của Thái Nguyên, đặc biệt với nhóm hàng nặng, cồng kềnh và các tuyến vận chuyển liên vùng. Giá trị lâu dài của dự án sẽ được quyết định không chỉ bởi quy mô đầu tư hay công suất thiết kế, mà bởi khả năng đưa cảng vào chuỗi logistics thực tế, giúp doanh nghiệp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả lưu chuyển hàng hóa.
