Thứ tư 12/08/2026 11:52
Hotline: 024.355.63.010
Góc nhìn Chuyên gia

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp thực sự tiếp cận được, luật sửa đổi cần chuyển từ tư duy “có chính sách” sang bảo đảm doanh nghiệp biết được hỗ trợ gì, hỏi ai, hồ sơ ra sao và bao lâu có câu trả lời. Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã trao đổi cùng ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng xung quanh vấn đề này.
Bài liên quan
TS. Mạc Quốc Anh: AI và ESG sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của SME
Bài 7: Sửa luật để xóa "vùng trắng" doanh nghiệp nhỏ và vừa ở vùng cao
Bài 10: Đặt doanh nghiệp trở lại trung tâm của chính sách
Bài 11: Xây hệ sinh thái doanh nghiệp từ một lần sửa luật
Bài 12: Xếp hạng tín nhiệm mở lối tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa


PV: Thưa ông, từ thực tiễn hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp Hải Phòng, đâu là khoảng cách lớn nhất giữa chính sách hỗ trợ DNNVV và khả năng doanh nghiệp thực sự tiếp cận được chính sách?

Ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng: Theo chúng tôi, vấn đề lớn không phải là thiếu chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), mà là khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận thực tế của doanh nghiệp.

Qua tiếp xúc, làm việc và tiếp nhận phản ánh từ doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy trước hết là vấn đề thông tin và đầu mối tiếp cận còn phân tán. DNNVV thường không có bộ phận pháp chế, chính sách hay chuyên viên chuyên trách để theo dõi nhiều chương trình về vốn, đất đai, công nghệ, đào tạo, xúc tiến thương mại.

Vì vậy, dù chính sách đã tồn tại, doanh nghiệp vẫn có thể không biết mình có thuộc đối tượng được hỗ trợ hay không, phải tìm đến đâu và cần chuẩn bị những gì.

Thứ hai là điều kiện và hồ sơ tiếp cận trong một số trường hợp còn tương đối phức tạp so với năng lực quản trị của DNNVV. Doanh nghiệp nhỏ phải dành nguồn lực hạn chế cho hoạt động kinh doanh trực tiếp. Mỗi tầng thủ tục, mỗi yêu cầu chứng minh lặp lại đều làm tăng chi phí thời gian và chi phí tuân thủ.

Thứ ba, một số chính sách vẫn dừng nhiều ở nguyên tắc hoặc định hướng. Trong khi đó, doanh nghiệp cần những câu trả lời rất cụ thể: có đủ điều kiện hay không, được tiếp cận nội dung gì, hồ sơ gồm những gì, cơ quan nào xử lý, thời hạn bao lâu và nếu không được hỗ trợ thì căn cứ từ chối là gì.

PV: Vậy Luật sửa đổi cần thiết kế cơ chế thực thi như thế nào để thu hẹp khoảng cách này?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Theo chúng tôi, lần sửa Luật này nên tiến thêm một bước về cơ chế thực thi.

Không nhất thiết mọi chính sách hỗ trợ đều trở thành quyền đương nhiên được nhận tiền, ưu đãi hoặc nguồn lực, vì còn phụ thuộc điều kiện, ngân sách và pháp luật chuyên ngành.

Nhưng DNNVV đủ điều kiện cần có quyền được tiếp cận một quy trình minh bạch và có thể dự đoán. Doanh nghiệp phải biết rõ điều kiện, có đầu mối tiếp nhận, được nộp hồ sơ thuận tiện, theo dõi trạng thái, được xử lý trong thời hạn và nếu không được chấp thuận thì nhận được phản hồi rõ lý do.

Một nguyên tắc khác cần được nghiên cứu mạnh là “doanh nghiệp cung cấp dữ liệu một lần”. Những dữ liệu cơ quan nhà nước đã có hợp pháp, như đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm và các dữ liệu liên quan, nên được kết nối và tái sử dụng theo đúng thẩm quyền, thay vì yêu cầu doanh nghiệp cung cấp hoặc chứng minh lặp lại.

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Đừng để chính sách nằm trên giấy
Phóng viên trao đổi với ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng

Tôi cho rằng doanh nghiệp không chỉ cần chính sách hỗ trợ. Quan trọng trước hết là quyền được tiếp cận một quy trình minh bạch, có đầu mối, có thời hạn và có câu trả lời.

PV: Có nghĩa là hiệu quả chính sách cũng cần được đo bằng kết quả thực tế thay vì chỉ đo bằng số chương trình được triển khai?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Đúng. Chính sách nên được đo bằng kết quả đầu ra.

Hỗ trợ công nghệ thì cần nhìn vào năng suất, chất lượng hoặc chi phí vận hành sau hỗ trợ. Hỗ trợ đào tạo thì phải xem doanh nghiệp cải thiện được năng lực gì.

Đối với hỗ trợ chuỗi cung ứng, cần theo dõi số doanh nghiệp được đánh giá, nâng chuẩn, nhận yêu cầu báo giá, đơn hàng hoặc trở thành nhà cung ứng ổn định, thay vì chỉ tính số doanh nghiệp tham gia chương trình.

PV: Hải Phòng là trung tâm công nghiệp, cảng biển, logistics và thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn, nhưng một bộ phận DNNVV trong nước vẫn khó tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI. Luật sửa đổi cần tạo “cầu nối” như thế nào?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Đây là vấn đề Hiệp hội đặc biệt quan tâm. Câu hỏi sau thu hút đầu tư không chỉ là có thêm bao nhiêu dự án, mà còn là doanh nghiệp Việt Nam tận dụng được hệ sinh thái đó đến đâu.

Tuy nhiên, không nên hiểu “cầu nối bắt buộc” theo nghĩa buộc doanh nghiệp FDI hoặc doanh nghiệp lớn phải mua hàng của DNNVV trong nước. Quan hệ cung ứng vẫn phải dựa trên chất lượng, giá thành, tiến độ, công nghệ, tiêu chuẩn và nguyên tắc thị trường.

Điều Luật có thể làm là tạo một cơ chế đủ mạnh để hai bên tìm thấy nhau, đồng thời giúp DNNVV rút ngắn khoảng cách còn thiếu để đạt chuẩn nhà cung ứng.

Theo chúng tôi, nên chuyển từ cách làm chỉ tổ chức hội nghị kết nối sang phát triển nhà cung ứng.

Trước hết, cần có cơ sở dữ liệu về nhu cầu mua hàng của doanh nghiệp lớn và FDI: cần sản phẩm, linh kiện, dịch vụ gì, tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao, quy mô, tần suất và yêu cầu giao hàng như thế nào.

Đồng thời, cần có cơ sở dữ liệu đáng tin cậy về năng lực nhà cung ứng trong nước, gồm sản phẩm, công suất, máy móc, chứng nhận, hệ thống quản trị chất lượng và năng lực giao hàng.

Khi có hai lớp dữ liệu đó, mới có thể thực hiện bước quan trọng là phân tích khoảng cách.

Một doanh nghiệp trong nước có thể đã đáp ứng 70-80% yêu cầu của một tập đoàn lớn nhưng còn thiếu một chứng chỉ, hệ thống QA/QC, thiết bị, năng lực truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn ESG hoặc vốn lưu động.

Chính sách hỗ trợ nên tập trung đúng vào phần khoảng cách còn thiếu đó.

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Đừng để chính sách nằm trên giấy
Sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, kết nối DNNVV với doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng

PV: Còn tín dụng, công nghệ và tiêu chuẩn thì sao, thưa ông?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Nếu doanh nghiệp đã có hợp đồng, đơn hàng, lịch sử giao dịch hoặc được doanh nghiệp đầu chuỗi xác nhận thì đây nên là nguồn dữ liệu quan trọng để tổ chức tín dụng xem xét phương án tài trợ phù hợp, bên cạnh yêu cầu về quản trị rủi ro và bảo đảm theo quy định.

Về công nghệ và tiêu chuẩn, có thể nghiên cứu cơ chế đồng phát triển. Doanh nghiệp đầu chuỗi đưa yêu cầu kỹ thuật, DNNVV đầu tư nâng chuẩn; chương trình hỗ trợ đủ điều kiện có thể tập trung vào tư vấn, thử nghiệm, chứng nhận, công nghệ, đào tạo hoặc nâng năng lực quản trị.

Quan trọng là phải thay đổi cách đo hiệu quả kết nối.

Không chỉ đếm số hội nghị, số biên bản ghi nhớ hay số lượt doanh nghiệp tham gia. Cần theo dõi bao nhiêu doanh nghiệp được đánh giá, bao nhiêu doanh nghiệp được nâng chuẩn, bao nhiêu doanh nghiệp nhận yêu cầu báo giá hoặc mẫu thử, bao nhiêu đơn hàng được ký và bao nhiêu doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng ổn định.

PV: Hiệp hội doanh nghiệp đang đóng vai trò đại diện tiếng nói cộng đồng doanh nghiệp. Theo ông, Luật sửa đổi có nên xác lập rõ hơn vị trí của các hiệp hội trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách hỗ trợ DNNVV?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Chúng tôi cho rằng nên nghiên cứu làm rõ hơn vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong hệ sinh thái hỗ trợ DNNVV, nhưng phải xác định đúng vị trí.

Hiệp hội không thay thế cơ quan quản lý nhà nước và cũng không phải cơ quan quyết định chính sách.

Vai trò phù hợp nhất của Hiệp hội là cầu nối hai chiều.

Ở chiều từ chính sách đến doanh nghiệp, Hiệp hội có thể hỗ trợ phổ biến, diễn giải, phân loại nhóm chịu tác động, hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận và ghi nhận khó khăn trong thực thi.

Ở chiều ngược lại, từ doanh nghiệp đến cơ quan có thẩm quyền, Hiệp hội có thể tổng hợp nhiều trường hợp riêng lẻ thành dữ liệu, nhận diện đâu là vướng mắc cá biệt, đâu là vấn đề có tính hệ thống để kiến nghị.

Theo chúng tôi, có thể nghiên cứu bốn cơ chế.

Thứ nhất là cơ chế tham vấn. Với những chính sách tác động trực tiếp và rộng đến DNNVV, nên có quy trình lấy ý kiến thực chất từ các hiệp hội đại diện phù hợp trước khi ban hành hoặc khi tổng kết, sửa đổi chính sách.

Thứ hai là cơ chế kiến nghị và phản hồi. Khi Hiệp hội tổng hợp một kiến nghị có dữ liệu, có căn cứ và gửi đúng cơ quan có thẩm quyền, nên có đầu mối tiếp nhận, trạng thái xử lý và phản hồi trong một thời hạn hợp lý.

Phản hồi không có nghĩa cơ quan quản lý bắt buộc phải đồng ý với kiến nghị. Nhưng cộng đồng doanh nghiệp cần biết kiến nghị đã được tiếp nhận, được xem xét như thế nào và kết quả ra sao.

Thứ ba là cơ chế đánh giá độc lập từ phía doanh nghiệp. Một chính sách có thể đã được ban hành và có nguồn lực thực hiện, nhưng mức độ tiếp cận thuận lợi hay không cần được đo từ trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp.

Các hiệp hội có thể tham gia khảo sát mức độ thụ hưởng, chi phí tiếp cận, thời gian xử lý và tác động sau hỗ trợ, sau đó cung cấp dữ liệu cho cơ quan có thẩm quyền.

Thứ tư, với những hiệp hội đáp ứng đủ điều kiện và năng lực, có thể nghiên cứu cơ chế tham gia thực hiện một số hoạt động như khảo sát, truyền thông chính sách, đào tạo, tư vấn, kết nối thị trường hoặc phát triển nhà cung ứng theo chương trình cụ thể. Tuy nhiên, việc này phải gắn với tiêu chuẩn năng lực, KPI, cơ chế tài chính, kiểm tra, công khai và minh bạch.

PV: Vậy thông điệp quan trọng nhất mà Hiệp hội muốn gửi tới quá trình sửa Luật lần này là gì?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Theo chúng tôi, sửa Luật không nên chỉ dừng ở việc bổ sung thêm chính sách hỗ trợ. Quan trọng hơn là phải làm rõ cơ chế để doanh nghiệp thực sự tiếp cận và thụ hưởng chính sách.

DNNVV cần biết mình được tiếp cận gì, hỏi ai, hồ sơ gì, thời hạn bao lâu và kết quả được trả lời thế nào.

Đối với chuỗi cung ứng, mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm nhiều cuộc kết nối, mà là có thêm doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực trở thành nhà cung ứng, có thêm đơn hàng và tạo ra giá trị thực trong nền kinh tế.

Hiệp hội cũng xác định rõ phạm vi của mình là tập hợp ý kiến doanh nghiệp, cung cấp thông tin, kết nối, phản ánh và kiến nghị trong phạm vi chức năng. Hiệp hội không thay thế cơ quan quản lý nhà nước và không đưa ra kết luận pháp lý thay cơ quan có thẩm quyền.

Điều chúng tôi mong muốn là tiếng nói có dữ liệu của cộng đồng doanh nghiệp được tiếp nhận qua một cơ chế rõ ràng. Kiến nghị đã gửi thì có đầu mối theo dõi, có phản hồi và có kết quả.

PV: Xin cảm ơn ông!

Tin bài khác
TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

Theo TS. Nguyễn Văn Đính, quy định thời hạn chung cư cần được hiểu là công cụ quản lý vòng đời công trình, không phải giới hạn quyền sở hữu, nhằm đảm bảo an toàn và minh bạch thị trường.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn cảnh báo những xung đột pháp lý trong dự thảo luật mới đang làm tắc nghẽn giao dịch, đồng thời đề xuất giải pháp thực tiễn nhằm khơi thông thị trường bất động sản.
PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung nhấn mạnh Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi phải lấy số hóa, tài chính hóa làm trụ cột, đồng thời xử lý triệt để xung đột với Luật Đất đai.
TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh sửa Luật Kinh doanh bất động sản phải hướng tới kiến tạo thị trường minh bạch, khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả phân bổ và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương cho rằng dữ liệu số là nền tảng cốt lõi giúp thị trường bất động sản minh bạch, giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng sức hút vốn dài hạn.
Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm chế biến gỗ lớn của thế giới. Tuy nhiên, phía sau kết quả đó là nghịch lý khi phần lớn nguyên liệu vẫn được bán dưới dạng dăm gỗ và viên nén, trong khi các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo lại thiếu gỗ nguyên liệu hợp pháp và có khả năng truy xuất để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế là chìa khóa bứt phá kinh tế

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân,việc xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM được kỳ vọng mở ra kênh huy động vốn dài hạn, giúp Việt Nam nâng cấp mô hình tăng trưởng và tiến gần hơn tới mục tiêu bứt phá kinh tế.
AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

AI chỉ tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp thiết kế lại cách làm việc

Từ kinh nghiệm điều hành một doanh nghiệp Việt Nam, bà Phạm Thị Thu Hằng - Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc 5S Media đề xuất mô hình ba vai trò và lộ trình năm bước giúp DNNVV biến AI từ công cụ tạo hiệu suất ngắn hạn thành năng lực vận hành có thể duy trì, nhân rộng và tạo giá trị lâu dài.
Doanh nghiệp nhà nước được định vị là lực lượng mở đường cho tăng trưởng mới

Doanh nghiệp nhà nước được định vị là lực lượng mở đường cho tăng trưởng mới

Trong bối cảnh nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới, doanh nghiệp nhà nước được xác định không chỉ bảo đảm vai trò chủ đạo mà còn phải tiên phong đầu tư vào các lĩnh vực nền tảng, tạo lập thị trường mới và dẫn dắt đổi mới sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
TS. Nguyễn Trí Hiếu: Vàng mất sức hút khi lãi suất cao, dòng tiền đang dịch chuyển mạnh

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Vàng mất sức hút khi lãi suất cao, dòng tiền đang dịch chuyển mạnh

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, giá vàng giảm sâu, lãi suất tăng mạnh và khủng hoảng niềm tin khiến dòng tiền rời bỏ kim loại quý, xu hướng này còn có thể kéo dài.
Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh

Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh

Áp lực giảm phát thải và đáp ứng hàng rào kỹ thuật quốc tế đang đẩy hàng ngàn doanh nghiệp vào cuộc đua đổi mới công nghệ. Dù nhu cầu vốn xanh cho mục tiêu Net Zero lên tới 368 tỷ USD, nhưng rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở sự thiếu hụt nguồn cung tiền, mà ở năng lực chứng minh hiệu quả kinh tế của chính doanh nghiệp.
Gỡ rào cản pháp lý an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp nhỏ

Gỡ rào cản pháp lý an toàn thực phẩm cho doanh nghiệp nhỏ

Không ít vi phạm về an toàn thực phẩm của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh hiện nay không đến từ hành vi cố tình mà bắt nguồn từ việc thiếu thông tin và bất cập trong áp dụng quy định mới. Để gỡ rào cản này, Bộ Tư pháp đã phối hợp cùng cơ quan chức năng thành phố Đà Nẵng tổ chức hội nghị đối thoại trực tiếp, giúp cộng đồng kinh doanh nhận diện rủi ro và tuân thủ chuẩn mực ngay từ gốc.
Tái cấu trúc thị trường vốn để giảm lệ thuộc tín dụng, hướng tăng trưởng bền vững

Tái cấu trúc thị trường vốn để giảm lệ thuộc tín dụng, hướng tăng trưởng bền vững

Theo ông Nguyễn Sơn – Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cấu trúc vốn mất cân đối khi tín dụng chiếm ưu thế lớn đang tiềm ẩn rủi ro. Việt Nam cần phát triển mạnh thị trường vốn để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dài hạn.
Hi1 và sứ mệnh đại sứ thương hiệu đưa triệu sản phẩm Việt lên sàn số với 10.000 sinh viên Huế

Hi1 và sứ mệnh đại sứ thương hiệu đưa triệu sản phẩm Việt lên sàn số với 10.000 sinh viên Huế

Trong bối cảnh hàng triệu sản phẩm OCOP, đặc sản làng nghề và thương hiệu địa phương Việt Nam vẫn đang loay hoay tìm đường lên môi trường số, một mô hình liên kết hoàn toàn mới vừa được khai sinh tại Huế, nơi mà 10.000 sinh viên thương mại điện tử và marketing sẽ không còn là những người chờ tốt nghiệp rồi đi tìm việc, mà trực tiếp trở thành lực lượng kiến tạo chuyển đổi số cho doanh nghiệp địa phương ngay từ hôm nay.
PGS. TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính kỳ vọng hút 30 tỷ USD mỗi năm

PGS. TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính kỳ vọng hút 30 tỷ USD mỗi năm

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân, Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM được kỳ vọng huy động 10-30 tỷ USD mỗi năm, trở thành kênh dẫn vốn quan trọng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng.