PV: Thưa ông, từ thực tiễn hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp Hải Phòng, đâu là khoảng cách lớn nhất giữa chính sách hỗ trợ DNNVV và khả năng doanh nghiệp thực sự tiếp cận được chính sách?
Ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng: Theo chúng tôi, vấn đề lớn không phải là thiếu chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), mà là khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận thực tế của doanh nghiệp.
Qua tiếp xúc, làm việc và tiếp nhận phản ánh từ doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy trước hết là vấn đề thông tin và đầu mối tiếp cận còn phân tán. DNNVV thường không có bộ phận pháp chế, chính sách hay chuyên viên chuyên trách để theo dõi nhiều chương trình về vốn, đất đai, công nghệ, đào tạo, xúc tiến thương mại.
Vì vậy, dù chính sách đã tồn tại, doanh nghiệp vẫn có thể không biết mình có thuộc đối tượng được hỗ trợ hay không, phải tìm đến đâu và cần chuẩn bị những gì.
Thứ hai là điều kiện và hồ sơ tiếp cận trong một số trường hợp còn tương đối phức tạp so với năng lực quản trị của DNNVV. Doanh nghiệp nhỏ phải dành nguồn lực hạn chế cho hoạt động kinh doanh trực tiếp. Mỗi tầng thủ tục, mỗi yêu cầu chứng minh lặp lại đều làm tăng chi phí thời gian và chi phí tuân thủ.
Thứ ba, một số chính sách vẫn dừng nhiều ở nguyên tắc hoặc định hướng. Trong khi đó, doanh nghiệp cần những câu trả lời rất cụ thể: có đủ điều kiện hay không, được tiếp cận nội dung gì, hồ sơ gồm những gì, cơ quan nào xử lý, thời hạn bao lâu và nếu không được hỗ trợ thì căn cứ từ chối là gì.
PV: Vậy Luật sửa đổi cần thiết kế cơ chế thực thi như thế nào để thu hẹp khoảng cách này?
Ông Nguyễn Trung Ngọc: Theo chúng tôi, lần sửa Luật này nên tiến thêm một bước về cơ chế thực thi.
Không nhất thiết mọi chính sách hỗ trợ đều trở thành quyền đương nhiên được nhận tiền, ưu đãi hoặc nguồn lực, vì còn phụ thuộc điều kiện, ngân sách và pháp luật chuyên ngành.
Nhưng DNNVV đủ điều kiện cần có quyền được tiếp cận một quy trình minh bạch và có thể dự đoán. Doanh nghiệp phải biết rõ điều kiện, có đầu mối tiếp nhận, được nộp hồ sơ thuận tiện, theo dõi trạng thái, được xử lý trong thời hạn và nếu không được chấp thuận thì nhận được phản hồi rõ lý do.
Một nguyên tắc khác cần được nghiên cứu mạnh là “doanh nghiệp cung cấp dữ liệu một lần”. Những dữ liệu cơ quan nhà nước đã có hợp pháp, như đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm và các dữ liệu liên quan, nên được kết nối và tái sử dụng theo đúng thẩm quyền, thay vì yêu cầu doanh nghiệp cung cấp hoặc chứng minh lặp lại.
![]() |
| Phóng viên trao đổi với ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng |
Tôi cho rằng doanh nghiệp không chỉ cần chính sách hỗ trợ. Quan trọng trước hết là quyền được tiếp cận một quy trình minh bạch, có đầu mối, có thời hạn và có câu trả lời.
PV: Có nghĩa là hiệu quả chính sách cũng cần được đo bằng kết quả thực tế thay vì chỉ đo bằng số chương trình được triển khai?
Ông Nguyễn Trung Ngọc: Đúng. Chính sách nên được đo bằng kết quả đầu ra.
Hỗ trợ công nghệ thì cần nhìn vào năng suất, chất lượng hoặc chi phí vận hành sau hỗ trợ. Hỗ trợ đào tạo thì phải xem doanh nghiệp cải thiện được năng lực gì.
Đối với hỗ trợ chuỗi cung ứng, cần theo dõi số doanh nghiệp được đánh giá, nâng chuẩn, nhận yêu cầu báo giá, đơn hàng hoặc trở thành nhà cung ứng ổn định, thay vì chỉ tính số doanh nghiệp tham gia chương trình.
PV: Hải Phòng là trung tâm công nghiệp, cảng biển, logistics và thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn, nhưng một bộ phận DNNVV trong nước vẫn khó tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI. Luật sửa đổi cần tạo “cầu nối” như thế nào?
Ông Nguyễn Trung Ngọc: Đây là vấn đề Hiệp hội đặc biệt quan tâm. Câu hỏi sau thu hút đầu tư không chỉ là có thêm bao nhiêu dự án, mà còn là doanh nghiệp Việt Nam tận dụng được hệ sinh thái đó đến đâu.
Tuy nhiên, không nên hiểu “cầu nối bắt buộc” theo nghĩa buộc doanh nghiệp FDI hoặc doanh nghiệp lớn phải mua hàng của DNNVV trong nước. Quan hệ cung ứng vẫn phải dựa trên chất lượng, giá thành, tiến độ, công nghệ, tiêu chuẩn và nguyên tắc thị trường.
Điều Luật có thể làm là tạo một cơ chế đủ mạnh để hai bên tìm thấy nhau, đồng thời giúp DNNVV rút ngắn khoảng cách còn thiếu để đạt chuẩn nhà cung ứng.
Theo chúng tôi, nên chuyển từ cách làm chỉ tổ chức hội nghị kết nối sang phát triển nhà cung ứng.
Trước hết, cần có cơ sở dữ liệu về nhu cầu mua hàng của doanh nghiệp lớn và FDI: cần sản phẩm, linh kiện, dịch vụ gì, tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao, quy mô, tần suất và yêu cầu giao hàng như thế nào.
Đồng thời, cần có cơ sở dữ liệu đáng tin cậy về năng lực nhà cung ứng trong nước, gồm sản phẩm, công suất, máy móc, chứng nhận, hệ thống quản trị chất lượng và năng lực giao hàng.
Khi có hai lớp dữ liệu đó, mới có thể thực hiện bước quan trọng là phân tích khoảng cách.
Một doanh nghiệp trong nước có thể đã đáp ứng 70-80% yêu cầu của một tập đoàn lớn nhưng còn thiếu một chứng chỉ, hệ thống QA/QC, thiết bị, năng lực truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn ESG hoặc vốn lưu động.
Chính sách hỗ trợ nên tập trung đúng vào phần khoảng cách còn thiếu đó.
![]() |
| Sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, kết nối DNNVV với doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng |
PV: Còn tín dụng, công nghệ và tiêu chuẩn thì sao, thưa ông?
Ông Nguyễn Trung Ngọc: Nếu doanh nghiệp đã có hợp đồng, đơn hàng, lịch sử giao dịch hoặc được doanh nghiệp đầu chuỗi xác nhận thì đây nên là nguồn dữ liệu quan trọng để tổ chức tín dụng xem xét phương án tài trợ phù hợp, bên cạnh yêu cầu về quản trị rủi ro và bảo đảm theo quy định.
Về công nghệ và tiêu chuẩn, có thể nghiên cứu cơ chế đồng phát triển. Doanh nghiệp đầu chuỗi đưa yêu cầu kỹ thuật, DNNVV đầu tư nâng chuẩn; chương trình hỗ trợ đủ điều kiện có thể tập trung vào tư vấn, thử nghiệm, chứng nhận, công nghệ, đào tạo hoặc nâng năng lực quản trị.
Quan trọng là phải thay đổi cách đo hiệu quả kết nối.
Không chỉ đếm số hội nghị, số biên bản ghi nhớ hay số lượt doanh nghiệp tham gia. Cần theo dõi bao nhiêu doanh nghiệp được đánh giá, bao nhiêu doanh nghiệp được nâng chuẩn, bao nhiêu doanh nghiệp nhận yêu cầu báo giá hoặc mẫu thử, bao nhiêu đơn hàng được ký và bao nhiêu doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng ổn định.
PV: Hiệp hội doanh nghiệp đang đóng vai trò đại diện tiếng nói cộng đồng doanh nghiệp. Theo ông, Luật sửa đổi có nên xác lập rõ hơn vị trí của các hiệp hội trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách hỗ trợ DNNVV?
Ông Nguyễn Trung Ngọc: Chúng tôi cho rằng nên nghiên cứu làm rõ hơn vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong hệ sinh thái hỗ trợ DNNVV, nhưng phải xác định đúng vị trí.
Hiệp hội không thay thế cơ quan quản lý nhà nước và cũng không phải cơ quan quyết định chính sách.
Vai trò phù hợp nhất của Hiệp hội là cầu nối hai chiều.
Ở chiều từ chính sách đến doanh nghiệp, Hiệp hội có thể hỗ trợ phổ biến, diễn giải, phân loại nhóm chịu tác động, hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận và ghi nhận khó khăn trong thực thi.
Ở chiều ngược lại, từ doanh nghiệp đến cơ quan có thẩm quyền, Hiệp hội có thể tổng hợp nhiều trường hợp riêng lẻ thành dữ liệu, nhận diện đâu là vướng mắc cá biệt, đâu là vấn đề có tính hệ thống để kiến nghị.
Theo chúng tôi, có thể nghiên cứu bốn cơ chế.
Thứ nhất là cơ chế tham vấn. Với những chính sách tác động trực tiếp và rộng đến DNNVV, nên có quy trình lấy ý kiến thực chất từ các hiệp hội đại diện phù hợp trước khi ban hành hoặc khi tổng kết, sửa đổi chính sách.
Thứ hai là cơ chế kiến nghị và phản hồi. Khi Hiệp hội tổng hợp một kiến nghị có dữ liệu, có căn cứ và gửi đúng cơ quan có thẩm quyền, nên có đầu mối tiếp nhận, trạng thái xử lý và phản hồi trong một thời hạn hợp lý.
Phản hồi không có nghĩa cơ quan quản lý bắt buộc phải đồng ý với kiến nghị. Nhưng cộng đồng doanh nghiệp cần biết kiến nghị đã được tiếp nhận, được xem xét như thế nào và kết quả ra sao.
Thứ ba là cơ chế đánh giá độc lập từ phía doanh nghiệp. Một chính sách có thể đã được ban hành và có nguồn lực thực hiện, nhưng mức độ tiếp cận thuận lợi hay không cần được đo từ trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp.
Các hiệp hội có thể tham gia khảo sát mức độ thụ hưởng, chi phí tiếp cận, thời gian xử lý và tác động sau hỗ trợ, sau đó cung cấp dữ liệu cho cơ quan có thẩm quyền.
Thứ tư, với những hiệp hội đáp ứng đủ điều kiện và năng lực, có thể nghiên cứu cơ chế tham gia thực hiện một số hoạt động như khảo sát, truyền thông chính sách, đào tạo, tư vấn, kết nối thị trường hoặc phát triển nhà cung ứng theo chương trình cụ thể. Tuy nhiên, việc này phải gắn với tiêu chuẩn năng lực, KPI, cơ chế tài chính, kiểm tra, công khai và minh bạch.
PV: Vậy thông điệp quan trọng nhất mà Hiệp hội muốn gửi tới quá trình sửa Luật lần này là gì?
Ông Nguyễn Trung Ngọc: Theo chúng tôi, sửa Luật không nên chỉ dừng ở việc bổ sung thêm chính sách hỗ trợ. Quan trọng hơn là phải làm rõ cơ chế để doanh nghiệp thực sự tiếp cận và thụ hưởng chính sách.
DNNVV cần biết mình được tiếp cận gì, hỏi ai, hồ sơ gì, thời hạn bao lâu và kết quả được trả lời thế nào.
Đối với chuỗi cung ứng, mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm nhiều cuộc kết nối, mà là có thêm doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực trở thành nhà cung ứng, có thêm đơn hàng và tạo ra giá trị thực trong nền kinh tế.
Hiệp hội cũng xác định rõ phạm vi của mình là tập hợp ý kiến doanh nghiệp, cung cấp thông tin, kết nối, phản ánh và kiến nghị trong phạm vi chức năng. Hiệp hội không thay thế cơ quan quản lý nhà nước và không đưa ra kết luận pháp lý thay cơ quan có thẩm quyền.
Điều chúng tôi mong muốn là tiếng nói có dữ liệu của cộng đồng doanh nghiệp được tiếp nhận qua một cơ chế rõ ràng. Kiến nghị đã gửi thì có đầu mối theo dõi, có phản hồi và có kết quả.
PV: Xin cảm ơn ông!