Thứ bảy 26/09/2026 13:02
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Góc nhìn Chuyên gia

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp thực sự tiếp cận được, luật sửa đổi cần chuyển từ tư duy “có chính sách” sang bảo đảm doanh nghiệp biết được hỗ trợ gì, hỏi ai, hồ sơ ra sao và bao lâu có câu trả lời. Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã trao đổi cùng ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng xung quanh vấn đề này.
Bài liên quan
TS. Mạc Quốc Anh: AI và ESG sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của SME
Bài 7: Sửa luật để xóa "vùng trắng" doanh nghiệp nhỏ và vừa ở vùng cao
Bài 10: Đặt doanh nghiệp trở lại trung tâm của chính sách
Bài 11: Xây hệ sinh thái doanh nghiệp từ một lần sửa luật
Bài 12: Xếp hạng tín nhiệm mở lối tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa


PV: Thưa ông, từ thực tiễn hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp Hải Phòng, đâu là khoảng cách lớn nhất giữa chính sách hỗ trợ DNNVV và khả năng doanh nghiệp thực sự tiếp cận được chính sách?

Ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng: Theo chúng tôi, vấn đề lớn không phải là thiếu chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), mà là khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận thực tế của doanh nghiệp.

Qua tiếp xúc, làm việc và tiếp nhận phản ánh từ doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy trước hết là vấn đề thông tin và đầu mối tiếp cận còn phân tán. DNNVV thường không có bộ phận pháp chế, chính sách hay chuyên viên chuyên trách để theo dõi nhiều chương trình về vốn, đất đai, công nghệ, đào tạo, xúc tiến thương mại.

Vì vậy, dù chính sách đã tồn tại, doanh nghiệp vẫn có thể không biết mình có thuộc đối tượng được hỗ trợ hay không, phải tìm đến đâu và cần chuẩn bị những gì.

Thứ hai là điều kiện và hồ sơ tiếp cận trong một số trường hợp còn tương đối phức tạp so với năng lực quản trị của DNNVV. Doanh nghiệp nhỏ phải dành nguồn lực hạn chế cho hoạt động kinh doanh trực tiếp. Mỗi tầng thủ tục, mỗi yêu cầu chứng minh lặp lại đều làm tăng chi phí thời gian và chi phí tuân thủ.

Thứ ba, một số chính sách vẫn dừng nhiều ở nguyên tắc hoặc định hướng. Trong khi đó, doanh nghiệp cần những câu trả lời rất cụ thể: có đủ điều kiện hay không, được tiếp cận nội dung gì, hồ sơ gồm những gì, cơ quan nào xử lý, thời hạn bao lâu và nếu không được hỗ trợ thì căn cứ từ chối là gì.

PV: Vậy Luật sửa đổi cần thiết kế cơ chế thực thi như thế nào để thu hẹp khoảng cách này?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Theo chúng tôi, lần sửa Luật này nên tiến thêm một bước về cơ chế thực thi.

Không nhất thiết mọi chính sách hỗ trợ đều trở thành quyền đương nhiên được nhận tiền, ưu đãi hoặc nguồn lực, vì còn phụ thuộc điều kiện, ngân sách và pháp luật chuyên ngành.

Nhưng DNNVV đủ điều kiện cần có quyền được tiếp cận một quy trình minh bạch và có thể dự đoán. Doanh nghiệp phải biết rõ điều kiện, có đầu mối tiếp nhận, được nộp hồ sơ thuận tiện, theo dõi trạng thái, được xử lý trong thời hạn và nếu không được chấp thuận thì nhận được phản hồi rõ lý do.

Một nguyên tắc khác cần được nghiên cứu mạnh là “doanh nghiệp cung cấp dữ liệu một lần”. Những dữ liệu cơ quan nhà nước đã có hợp pháp, như đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm và các dữ liệu liên quan, nên được kết nối và tái sử dụng theo đúng thẩm quyền, thay vì yêu cầu doanh nghiệp cung cấp hoặc chứng minh lặp lại.

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Đừng để chính sách nằm trên giấy
Phóng viên trao đổi với ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng

Tôi cho rằng doanh nghiệp không chỉ cần chính sách hỗ trợ. Quan trọng trước hết là quyền được tiếp cận một quy trình minh bạch, có đầu mối, có thời hạn và có câu trả lời.

PV: Có nghĩa là hiệu quả chính sách cũng cần được đo bằng kết quả thực tế thay vì chỉ đo bằng số chương trình được triển khai?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Đúng. Chính sách nên được đo bằng kết quả đầu ra.

Hỗ trợ công nghệ thì cần nhìn vào năng suất, chất lượng hoặc chi phí vận hành sau hỗ trợ. Hỗ trợ đào tạo thì phải xem doanh nghiệp cải thiện được năng lực gì.

Đối với hỗ trợ chuỗi cung ứng, cần theo dõi số doanh nghiệp được đánh giá, nâng chuẩn, nhận yêu cầu báo giá, đơn hàng hoặc trở thành nhà cung ứng ổn định, thay vì chỉ tính số doanh nghiệp tham gia chương trình.

PV: Hải Phòng là trung tâm công nghiệp, cảng biển, logistics và thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn, nhưng một bộ phận DNNVV trong nước vẫn khó tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI. Luật sửa đổi cần tạo “cầu nối” như thế nào?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Đây là vấn đề Hiệp hội đặc biệt quan tâm. Câu hỏi sau thu hút đầu tư không chỉ là có thêm bao nhiêu dự án, mà còn là doanh nghiệp Việt Nam tận dụng được hệ sinh thái đó đến đâu.

Tuy nhiên, không nên hiểu “cầu nối bắt buộc” theo nghĩa buộc doanh nghiệp FDI hoặc doanh nghiệp lớn phải mua hàng của DNNVV trong nước. Quan hệ cung ứng vẫn phải dựa trên chất lượng, giá thành, tiến độ, công nghệ, tiêu chuẩn và nguyên tắc thị trường.

Điều Luật có thể làm là tạo một cơ chế đủ mạnh để hai bên tìm thấy nhau, đồng thời giúp DNNVV rút ngắn khoảng cách còn thiếu để đạt chuẩn nhà cung ứng.

Theo chúng tôi, nên chuyển từ cách làm chỉ tổ chức hội nghị kết nối sang phát triển nhà cung ứng.

Trước hết, cần có cơ sở dữ liệu về nhu cầu mua hàng của doanh nghiệp lớn và FDI: cần sản phẩm, linh kiện, dịch vụ gì, tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao, quy mô, tần suất và yêu cầu giao hàng như thế nào.

Đồng thời, cần có cơ sở dữ liệu đáng tin cậy về năng lực nhà cung ứng trong nước, gồm sản phẩm, công suất, máy móc, chứng nhận, hệ thống quản trị chất lượng và năng lực giao hàng.

Khi có hai lớp dữ liệu đó, mới có thể thực hiện bước quan trọng là phân tích khoảng cách.

Một doanh nghiệp trong nước có thể đã đáp ứng 70-80% yêu cầu của một tập đoàn lớn nhưng còn thiếu một chứng chỉ, hệ thống QA/QC, thiết bị, năng lực truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn ESG hoặc vốn lưu động.

Chính sách hỗ trợ nên tập trung đúng vào phần khoảng cách còn thiếu đó.

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Đừng để chính sách nằm trên giấy
Sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, kết nối DNNVV với doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng

PV: Còn tín dụng, công nghệ và tiêu chuẩn thì sao, thưa ông?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Nếu doanh nghiệp đã có hợp đồng, đơn hàng, lịch sử giao dịch hoặc được doanh nghiệp đầu chuỗi xác nhận thì đây nên là nguồn dữ liệu quan trọng để tổ chức tín dụng xem xét phương án tài trợ phù hợp, bên cạnh yêu cầu về quản trị rủi ro và bảo đảm theo quy định.

Về công nghệ và tiêu chuẩn, có thể nghiên cứu cơ chế đồng phát triển. Doanh nghiệp đầu chuỗi đưa yêu cầu kỹ thuật, DNNVV đầu tư nâng chuẩn; chương trình hỗ trợ đủ điều kiện có thể tập trung vào tư vấn, thử nghiệm, chứng nhận, công nghệ, đào tạo hoặc nâng năng lực quản trị.

Quan trọng là phải thay đổi cách đo hiệu quả kết nối.

Không chỉ đếm số hội nghị, số biên bản ghi nhớ hay số lượt doanh nghiệp tham gia. Cần theo dõi bao nhiêu doanh nghiệp được đánh giá, bao nhiêu doanh nghiệp được nâng chuẩn, bao nhiêu doanh nghiệp nhận yêu cầu báo giá hoặc mẫu thử, bao nhiêu đơn hàng được ký và bao nhiêu doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng ổn định.

PV: Hiệp hội doanh nghiệp đang đóng vai trò đại diện tiếng nói cộng đồng doanh nghiệp. Theo ông, Luật sửa đổi có nên xác lập rõ hơn vị trí của các hiệp hội trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách hỗ trợ DNNVV?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Chúng tôi cho rằng nên nghiên cứu làm rõ hơn vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong hệ sinh thái hỗ trợ DNNVV, nhưng phải xác định đúng vị trí.

Hiệp hội không thay thế cơ quan quản lý nhà nước và cũng không phải cơ quan quyết định chính sách.

Vai trò phù hợp nhất của Hiệp hội là cầu nối hai chiều.

Ở chiều từ chính sách đến doanh nghiệp, Hiệp hội có thể hỗ trợ phổ biến, diễn giải, phân loại nhóm chịu tác động, hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận và ghi nhận khó khăn trong thực thi.

Ở chiều ngược lại, từ doanh nghiệp đến cơ quan có thẩm quyền, Hiệp hội có thể tổng hợp nhiều trường hợp riêng lẻ thành dữ liệu, nhận diện đâu là vướng mắc cá biệt, đâu là vấn đề có tính hệ thống để kiến nghị.

Theo chúng tôi, có thể nghiên cứu bốn cơ chế.

Thứ nhất là cơ chế tham vấn. Với những chính sách tác động trực tiếp và rộng đến DNNVV, nên có quy trình lấy ý kiến thực chất từ các hiệp hội đại diện phù hợp trước khi ban hành hoặc khi tổng kết, sửa đổi chính sách.

Thứ hai là cơ chế kiến nghị và phản hồi. Khi Hiệp hội tổng hợp một kiến nghị có dữ liệu, có căn cứ và gửi đúng cơ quan có thẩm quyền, nên có đầu mối tiếp nhận, trạng thái xử lý và phản hồi trong một thời hạn hợp lý.

Phản hồi không có nghĩa cơ quan quản lý bắt buộc phải đồng ý với kiến nghị. Nhưng cộng đồng doanh nghiệp cần biết kiến nghị đã được tiếp nhận, được xem xét như thế nào và kết quả ra sao.

Thứ ba là cơ chế đánh giá độc lập từ phía doanh nghiệp. Một chính sách có thể đã được ban hành và có nguồn lực thực hiện, nhưng mức độ tiếp cận thuận lợi hay không cần được đo từ trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp.

Các hiệp hội có thể tham gia khảo sát mức độ thụ hưởng, chi phí tiếp cận, thời gian xử lý và tác động sau hỗ trợ, sau đó cung cấp dữ liệu cho cơ quan có thẩm quyền.

Thứ tư, với những hiệp hội đáp ứng đủ điều kiện và năng lực, có thể nghiên cứu cơ chế tham gia thực hiện một số hoạt động như khảo sát, truyền thông chính sách, đào tạo, tư vấn, kết nối thị trường hoặc phát triển nhà cung ứng theo chương trình cụ thể. Tuy nhiên, việc này phải gắn với tiêu chuẩn năng lực, KPI, cơ chế tài chính, kiểm tra, công khai và minh bạch.

PV: Vậy thông điệp quan trọng nhất mà Hiệp hội muốn gửi tới quá trình sửa Luật lần này là gì?

Ông Nguyễn Trung Ngọc: Theo chúng tôi, sửa Luật không nên chỉ dừng ở việc bổ sung thêm chính sách hỗ trợ. Quan trọng hơn là phải làm rõ cơ chế để doanh nghiệp thực sự tiếp cận và thụ hưởng chính sách.

DNNVV cần biết mình được tiếp cận gì, hỏi ai, hồ sơ gì, thời hạn bao lâu và kết quả được trả lời thế nào.

Đối với chuỗi cung ứng, mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm nhiều cuộc kết nối, mà là có thêm doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực trở thành nhà cung ứng, có thêm đơn hàng và tạo ra giá trị thực trong nền kinh tế.

Hiệp hội cũng xác định rõ phạm vi của mình là tập hợp ý kiến doanh nghiệp, cung cấp thông tin, kết nối, phản ánh và kiến nghị trong phạm vi chức năng. Hiệp hội không thay thế cơ quan quản lý nhà nước và không đưa ra kết luận pháp lý thay cơ quan có thẩm quyền.

Điều chúng tôi mong muốn là tiếng nói có dữ liệu của cộng đồng doanh nghiệp được tiếp nhận qua một cơ chế rõ ràng. Kiến nghị đã gửi thì có đầu mối theo dõi, có phản hồi và có kết quả.

PV: Xin cảm ơn ông!

Tin bài khác
Tín dụng mở thêm dư địa, du lịch cần gì để giữ dòng tiền?

Tín dụng mở thêm dư địa, du lịch cần gì để giữ dòng tiền?

Quy định mới của Ngân hàng Nhà nước tạo thêm dư địa tín dụng cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng và các dự án gắn với du lịch. Nhưng vốn chỉ là một mắt xích, hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng hình thành sản phẩm, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách.
Nhà nước mua lại dự án bất động sản: Định giá thế nào để không lãng phí ngân sách?

Nhà nước mua lại dự án bất động sản: Định giá thế nào để không lãng phí ngân sách?

Đề xuất Nhà nước mua lại những dự án nhà ở thương mại mà chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng đang mở thêm một hướng xử lý các dự án bất động tồn đọng. Nhưng khi Nhà nước trở thành bên mua, câu hỏi quan trọng không chỉ là mua dự án nào mà còn là mua với giá nào, dựa trên căn cứ nào và kiểm soát ra sao để không biến việc giải cứu tài sản đình trệ thành gánh nặng ngân sách.
Chủ sở hữu hưởng lợi: Khi “bức bình phong” che khuất người kiểm soát thực sự

Chủ sở hữu hưởng lợi: Khi “bức bình phong” che khuất người kiểm soát thực sự

Những lớp sở hữu, pháp nhân trung gian hay người đại diện có thể khiến việc nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi (CSHHL) trở nên phức tạp, đặc biệt tại các doanh nghiệp FDI và tập đoàn có cấu trúc sở hữu nhiều tầng. Bài toán này không chỉ đặt ra trách nhiệm cho doanh nghiệp mà còn liên quan đến yêu cầu minh bạch, phòng chống rửa tiền và bảo vệ quyền lợi của chính người hưởng lợi cuối cùng.
Làm sạch mã số thuế: Đề xuất phân loại tình trạng  doanh nghiệp để xử lý phù hợp

Làm sạch mã số thuế: Đề xuất phân loại tình trạng doanh nghiệp để xử lý phù hợp

Chiến dịch làm sạch mã số thuế đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế xử lý đối với tình trạng thực tế cụ của doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ kinh doanh hoặc còn tồn tại nghĩa vụ thuế trên hồ sơ.
Nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi: Doanh nghiệp loay hoay xác định người đứng sau?

Nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi: Doanh nghiệp loay hoay xác định người đứng sau?

Quy định về chủ sở hữu hưởng lợi được bổ sung, làm rõ tại Nghị định 296/2026/NĐ-CP, nhưng với doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu nhiều tầng, sở hữu chéo hoặc có yếu tố vốn FDI, việc xác định cá nhân kiểm soát cuối cùng vẫn là bài toán không đơn giản.
Dự thảo Luật Nhà ở cần làm rõ chính sách cho thuê

Dự thảo Luật Nhà ở cần làm rõ chính sách cho thuê

Tại hội thảo góp ý hoàn thiện dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Xây dựng Việt Nam Nguyễn Thị Duyên kiến nghị cơ quan soạn thảo làm rõ các quy định về nhà ở cho thuê, trong đó có thời hạn cho thuê theo thiết kế công trình, khái niệm “thuê mua” và cơ chế quản lý đối với các dự án sử dụng nguồn vốn khác nhau.
Fed tăng lãi suất và bài toán giữ nhịp tăng trưởng của Việt Nam

Fed tăng lãi suất và bài toán giữ nhịp tăng trưởng của Việt Nam

Áp lực tỷ giá được đánh giá chưa lớn, nhưng dư địa giảm lãi suất trong nước, dòng vốn và chi phí ngoại tệ đều có thể chịu sức ép nếu Fed tiếp tục thắt chặt.
Liên kết vùng là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển

Liên kết vùng là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển

Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Bùi Minh Thạnh nhấn mạnh, liên kết vùng không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển; đồng thời đề nghị chuyển mạnh từ liên kết theo địa giới hành chính sang liên kết theo không gian phát triển, từ xúc tiến từng dự án sang kiến tạo chuỗi giá trị.
Bài toán mới của FDI là giữ giá trị trong nền kinh tế Việt

Bài toán mới của FDI là giữ giá trị trong nền kinh tế Việt

Dữ liệu VNTAX 2026 cho thấy một khoảng cách đáng chú ý giữa quy mô xuất khẩu của khu vực FDI và vị trí trong nhóm doanh nghiệp nộp ngân sách lớn nhất. Đây cũng là lúc chính sách FDI chuyển trọng tâm từ thu hút vốn sang giá trị gia tăng, công nghệ và liên kết với doanh nghiệp Việt.
Thị trường mua bán nợ cần một hạ tầng đủ sức kéo nhà đầu tư

Thị trường mua bán nợ cần một hạ tầng đủ sức kéo nhà đầu tư

Nợ xấu vẫn là nguồn lực lớn cần được giải phóng. Để biến các khoản nợ thành tài sản có thể giao dịch, thị trường cần dữ liệu chuẩn, định giá rõ và thêm nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Du lịch Việt Nam đứng trước bài toán nâng giá trị mỗi du khách

Du lịch Việt Nam đứng trước bài toán nâng giá trị mỗi du khách

Quy mô khách du lịch của Việt Nam đang tăng nhanh, nhưng chặng đường phía trước đòi hỏi nhiều hơn những kỷ lục về lượng khách. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị mở ra định hướng chuyển mạnh sang du lịch chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo và có giá trị gia tăng lớn.
Đừng để “lớn lên” trở thành nỗi sợ của hộ kinh doanh!

Đừng để “lớn lên” trở thành nỗi sợ của hộ kinh doanh!

Hộ kinh doanh không thiếu năng lực làm ăn. Điều họ cần là một môi trường đủ đơn giản, minh bạch và dễ dự đoán để từ một cửa hàng nhỏ có thể trở thành một cơ sở sản xuất, một doanh nghiệp và xa hơn là một mắt xích trong chuỗi giá trị.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, VIFC không thay thế ngân hàng hay chứng khoán mà mở ra kênh dẫn vốn mới, giúp Việt Nam tiếp cận dòng vốn quốc tế mà thị trường hiện tại chưa khai thác hết.
Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng: Kinh tế tầm thấp mở động lực mới

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng: Kinh tế tầm thấp mở động lực mới

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng cho rằng kinh tế tầm thấp đang mở ra không gian tăng trưởng mới, nhưng Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý đồng bộ, bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế với yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Sân bay Long Thành và bài toán giữ khách ở lại Đồng Nai

Sân bay Long Thành và bài toán giữ khách ở lại Đồng Nai

Sân bay Long Thành sẽ mở rộng khả năng kết nối của Đồng Nai với du khách, nhà đầu tư và các dòng hàng hóa quốc tế. Nhưng để biến lợi thế giao thông thành doanh thu, địa phương cần kết nối du lịch, logistics, dịch vụ và doanh nghiệp thành một chuỗi trải nghiệm.