Hạ tầng lớn nhưng giá trị chưa tự đến
Trong nhiều năm, Đồng Nai thường được nhắc đến với lợi thế vị trí hơn là một điểm đến. Địa phương nằm giữa TPHCM và nhiều tỉnh, thành trong vùng Đông Nam bộ, có hệ thống khu công nghiệp lớn và mạng lưới giao thông ngày càng hoàn thiện.
![]() |
Sân bay quốc tế Long Thành đi vào hoạt động sẽ là điểm kết nối mang lại giá trị cao cho địa phương |
Sân bay quốc tế Long Thành đang tạo thêm một lợi thế đặc biệt. Khi sân bay vận hành, Đồng Nai có cơ hội trở thành một cửa ngõ quan trọng của vùng, kết nối hành khách, hàng hóa, logistics, du lịch và đầu tư.
Tuy nhiên, một sân bay lớn không đồng nghĩa địa phương sẽ tự động hưởng lợi từ dòng khách. Nếu hành khách hạ cánh rồi đi thẳng đến TPHCM hoặc các địa phương khác, Đồng Nai vẫn chỉ đóng vai trò trung chuyển.
Đây là điểm đáng chú ý trong nghiên cứu của nhóm tác giả (*) Lê Thị Hạnh An, Phạm Nguyễn Hoài và Trịnh Tú Anh, Đại học Kinh tế TP.HCM (**). Nhóm nghiên cứu cho rằng lợi thế của Đồng Nai hiện khá phân tán, trong khi khả năng kết nối các nguồn lực thành một trải nghiệm thống nhất còn hạn chế.
Vấn đề vì thế không chỉ là xây thêm đường, sân bay hay các trung tâm logistics. Câu hỏi quan trọng hơn là làm thế nào biến dòng người đi qua thành dòng khách ở lại và chi tiêu.
Một hành khách quá cảnh vài giờ có thể không trở thành khách lưu trú, nhưng vẫn có thể dùng dịch vụ ăn uống, mua sắm, tham quan hoặc trải nghiệm. Một đoàn khách công vụ đến khu công nghiệp cũng có thể trở thành khách MICE, khách lưu trú và khách sử dụng dịch vụ địa phương.
Nếu không thiết kế được những sản phẩm như vậy, lợi thế “cửa ngõ” sẽ chủ yếu mang lại giá trị cho hoạt động vận tải và logistics, trong khi du lịch, thương mại dịch vụ và doanh nghiệp địa phương hưởng lợi ít hơn.
Theo nghiên cứu, Đồng Nai có hệ thống tài nguyên khá đa dạng, từ rừng, hồ, sông nước, nông nghiệp đến văn hóa, lịch sử, công nghiệp và logistics. Vấn đề là các nguồn lực này chưa được tổ chức thành những chuỗi sản phẩm có khả năng giữ chân khách.
Đây là khoảng trống mà khái niệm thương hiệu đô thị có thể góp phần giải quyết. Theo nhóm nghiên cứu, city branding không nên chỉ được hiểu là làm logo, khẩu hiệu hay quảng bá hình ảnh địa phương.
Một thương hiệu đô thị chỉ có giá trị khi được tạo ra từ trải nghiệm thực tế. Du khách phải nhìn thấy sự thuận tiện trong giao thông, chất lượng dịch vụ, sản phẩm đặc trưng và một câu chuyện đủ rõ để nhớ về địa phương.
Với Đồng Nai, sân bay Long Thành có thể được xem là điểm khởi đầu cho một hệ sinh thái như vậy. Từ sân bay, các hành lang giao thông có thể kết nối tới các điểm du lịch, trung tâm thương mại, khách sạn, khu đô thị, khu công nghiệp và các không gian trải nghiệm.
Một hành khách có vài giờ chờ chuyến bay có thể lựa chọn một chương trình ngắn. Người có thời gian dài hơn có thể chọn tour nửa ngày hoặc một đêm. Khách công vụ có thể kết hợp hội nghị, tham quan và trải nghiệm địa phương.
Ý tưởng “Free Dong Nai Transit Tour” được nghiên cứu đề xuất theo hướng này. Thay vì xem thời gian quá cảnh là khoảng thời gian chết, địa phương có thể biến nó thành cơ hội tiêu dùng dịch vụ.
Nhưng để ý tưởng trở thành sản phẩm thương mại, cần đi thêm một bước. Doanh nghiệp lữ hành phải xây dựng tour, doanh nghiệp vận tải tổ chức đưa đón, nhà hàng và điểm tham quan tham gia chuỗi cung ứng. Các khách sạn, trung tâm thương mại và đơn vị dịch vụ cũng cần có sản phẩm phù hợp.
Chính quyền địa phương khi đó đóng vai trò kiến tạo điều kiện, kết nối doanh nghiệp và cung cấp dữ liệu, thay vì trực tiếp làm tất cả.
Đây cũng là điểm cần lưu ý khi triển khai chiến lược thương hiệu đô thị. Một khẩu hiệu mới không thể thay thế một sản phẩm mới.
Nếu Đồng Nai muốn biến lợi thế Long Thành thành động lực tăng trưởng mới, bài toán không dừng ở du lịch. Sân bay có thể kéo theo một hệ sinh thái rộng hơn gồm logistics, lưu trú, bán lẻ, ẩm thực, vận tải, MICE, bất động sản thương mại và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.
Trong đó, logistics là lợi thế đã hình thành từ trước. Đồng Nai có hệ thống khu công nghiệp lớn, kết nối với TP.HCM, Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) và các tỉnh Đông Nam bộ. Khi sân bay Long Thành vận hành, khả năng kết nối hàng không sẽ bổ sung thêm một mắt xích cho hệ sinh thái này.
Điều đáng quan tâm là làm sao để các lĩnh vực không phát triển tách rời. Một doanh nhân nước ngoài đến Đồng Nai khảo sát nhà máy có thể sử dụng dịch vụ vận tải, khách sạn, nhà hàng, hội nghị và tham quan. Một chuyên gia nước ngoài làm việc vài ngày có thể trở thành khách lưu trú dài hơn nếu địa phương có sản phẩm trải nghiệm phù hợp.
Theo hướng này, thương hiệu đô thị không còn là câu chuyện riêng của ngành du lịch. Nó trở thành bài toán phối hợp giữa quy hoạch, giao thông, thương mại, đầu tư, dịch vụ và văn hóa.
Nghiên cứu của nhóm UEH đề xuất Khung triển khai thương hiệu đô thị tích hợp (IICBF), với cách tiếp cận tổ chức không gian theo các lớp gồm hạt nhân cửa ngõ, hành lang kết nối, điểm nút và điểm đến trải nghiệm.
Điểm đáng chú ý của mô hình là cố gắng đưa thương hiệu ra khỏi hoạt động truyền thông. Thương hiệu phải được thể hiện trong cách tổ chức không gian, dịch vụ và trải nghiệm.
Tuy nhiên, để khung này có giá trị thực tiễn, Đồng Nai cần lượng hóa các mục tiêu. Chẳng hạn, bao nhiêu khách quá cảnh có thể được chuyển thành khách tham quan? Bao nhiêu khách có thể lưu trú thêm một đêm? Chi tiêu bình quân có thể tăng bao nhiêu? Doanh nghiệp địa phương tham gia chuỗi giá trị với tỷ lệ nào?
Những câu hỏi này quan trọng hơn việc Đồng Nai có một khẩu hiệu thương hiệu hay một bộ nhận diện đẹp.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các đô thị cửa ngõ chỉ tạo được lợi thế khi hạ tầng được kết nối với hệ sinh thái dịch vụ. Singapore không chỉ có sân bay Changi mà còn có mạng lưới logistics, tài chính, thương mại và dịch vụ quốc tế. Dubai cũng phát triển sân bay, cảng biển, logistics, thương mại và du lịch thành một hệ sinh thái liên kết.
Đồng Nai không thể sao chép những mô hình này vì quy mô, nguồn lực và điều kiện thể chế khác nhau. Nhưng có thể học một nguyên tắc:hạ tầng chỉ là điều kiện cần, còn hệ sinh thái dịch vụ mới quyết định giá trị giữ lại tại địa phương.
Vì vậy, sáu nhóm giải pháp mà nghiên cứu đề xuất, gồm tái cấu trúc không gian, xây dựng hệ sinh thái dừng chân, phát triển sản phẩm đa trải nghiệm, đưa giao thông vào trải nghiệm đô thị, xây dựng cơ chế quản trị thương hiệu và phát triển dữ liệu, chỉ có thể thành công nếu doanh nghiệp được đặt vào trung tâm triển khai.
Đồng Nai cũng cần một cơ chế phối hợp đủ mạnh giữa chính quyền và doanh nghiệp. Không thể để mỗi điểm du lịch tự quảng bá, mỗi doanh nghiệp tự tìm khách và mỗi ngành tự xây dựng một chiến lược riêng.
Điều cần thiết là một bản đồ sản phẩm chung, dữ liệu khách chung và các gói dịch vụ có thể bán ngay từ sân bay.
Long Thành đang tạo cho Đồng Nai một cơ hội hiếm có để thay đổi vị trí trong bản đồ kinh tế vùng. Nhưng sân bay không thể tự tạo ra một điểm đến.
Nếu khách chỉ hạ cánh rồi rời đi, Đồng Nai vẫn là một địa bàn trung chuyển. Nếu khách có lý do để dừng lại, sử dụng dịch vụ và chi tiêu, lợi thế cửa ngõ mới chuyển thành giá trị kinh tế.
Vì vậy, câu chuyện thương hiệu đô thị của Đồng Nai cuối cùng không nằm ở logo hay khẩu hiệu. Nó nằm ở một câu hỏi rất thực tế: làm thế nào để biến một hành khách đi qua thành một khách hàng ở lại?
-------------------------------
(*) Lê Thị Hạnh An, Phạm Nguyễn Hoài, Trịnh Tú Anh, Đại học Kinh tế TP.HCM
(**) Đề tài Từ điểm nghẽn kết nối đến đô thị kết nối đa trải nghiệm: Tái định vị thương hiệu Đồng Nai trong vùng động lực phía Nam (https://future.ueh.edu.vn/chi-tiet-knowlege/research-contribution-tu-diem-nghen-ket-noi-den-do-thi-ket-noi-da-trai-nghiem-tai-dinh-vi-thuong-hieu-dong-nai-trong-vung-dong-luc-phia-nam/)