Thứ năm 05/11/2026 17:27
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Góc nhìn Chuyên gia

Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm chế biến gỗ lớn của thế giới. Tuy nhiên, phía sau kết quả đó là nghịch lý khi phần lớn nguyên liệu vẫn được bán dưới dạng dăm gỗ và viên nén, trong khi các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo lại thiếu gỗ nguyên liệu hợp pháp và có khả năng truy xuất để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.

Năm 2025, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 17,2 tỷ USD, sản phẩm hiện diện tại hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU) và Hàn Quốc tiếp tục là những thị trường tiêu thụ lớn, góp phần đưa Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng gỗ toàn cầu.

Trong bối cảnh ngành xây dựng, nội thất và vật liệu xanh đang phát triển mạnh mẽ, thị trường gỗ nguyên liệu tại Việt Nam và thế giới đang chứng kiến nhiều biến động đáng chú ý về giá cả, nguồn cung cũng như xu hướng sử dụng vật liệu thay thế.
Trong bối cảnh ngành xây dựng, nội thất và vật liệu xanh đang phát triển mạnh mẽ, thị trường gỗ nguyên liệu tại Việt Nam và thế giới đang chứng kiến nhiều biến động đáng chú ý về giá cả, nguồn cung cũng như xu hướng sử dụng vật liệu thay thế.

Đằng sau con số tăng trưởng là một nghịch lý chưa được giải quyết. Cả nước hiện có khoảng 4,9 triệu ha rừng trồng nhưng nhiều doanh nghiệp chế biến sâu vẫn phải thu hẹp sản xuất vì thiếu nguyên liệu đạt yêu cầu. Điều doanh nghiệp cần không phải là gỗ nhỏ để sản xuất dăm hay viên nén, mà là nguồn gỗ lớn, ổn định, có hồ sơ nguồn gốc rõ ràng và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Thực tế này diễn ra ngay tại nhiều địa phương có diện tích rừng trồng lớn. Tại tỉnh Thanh Hóa là một ví dụ. Dù nguồn nguyên liệu dồi dào, nhiều diện tích keo vẫn được khai thác khi mới 3-4 năm tuổi để bán cho các cơ sở băm dăm. Việc các điểm thu mua phát triển nhanh, cạnh tranh thu mua bằng nhiều mức giá khiến thị trường nguyên liệu luôn biến động, còn doanh nghiệp chế biến sâu rơi vào thế bị động.

Ông Phạm Thành Long - Giám đốc thu mua nguyên liệu Công ty trách nhiệm hữu hạn Triệu Thái Sơn - cho biết: cùng khoảng 3 tấn gỗ keo tươi, nếu đưa đi băm dăm xuất khẩu chỉ tạo giá trị khoảng 4 triệu đồng, sản xuất viên nén đạt khoảng 5 triệu đồng. Trong khi đó, nếu đưa vào chuỗi chế biến sâu như sản xuất ván ép và tận dụng phụ phẩm, giá trị có thể đạt khoảng 20 triệu đồng. Dù vậy, nhiều doanh nghiệp vẫn phải giảm công suất, thậm chí tạm dừng một số dây chuyền vì không mua được nguyên liệu phù hợp.

Những con số của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) càng cho thấy sự mất cân đối trong sử dụng nguyên liệu. Năm 2025, tổng nhu cầu nguyên liệu quy đổi cho bốn nhóm sản phẩm gỗ xuất khẩu chủ lực khoảng 59,5 triệu m³, trong đó dăm gỗ và viên nén chiếm tới 46,5 triệu m³, tương đương 78,1%. Phần dành cho ván công nghiệp và đồ gỗ xuất khẩu chỉ khoảng 13 triệu m³, tương đương 21,9%.

Điều đó đồng nghĩa phần lớn nguyên liệu gỗ trong nước vẫn đang tạo ra giá trị gia tăng thấp, trong khi các lĩnh vực có khả năng mang lại giá trị cao hơn lại thiếu nguồn cung.

Bài toán này không chỉ xuất phát từ thị trường mà còn liên quan đến chính sách và phương thức sản xuất. Chi phí đầu tư dây chuyền băm dăm thấp, thời gian thu hồi vốn nhanh, trong khi sản phẩm dăm gỗ chỉ chịu thuế xuất khẩu khoảng 2% và còn được hoàn thuế nên thực tế gần như bằng 0%. Ngược lại, doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu phải bỏ vốn lớn, đáp ứng nhiều điều kiện kỹ thuật, đồng thời chịu mức thuế 8-10% đối với một số sản phẩm.

Ông Đoàn Văn Tỉnh - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty MDF Mekong - cho rằng chính sự chênh lệch này khiến dăm gỗ vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu lâm sản dù giá trị gia tăng thấp.

Ở chiều ngược lại, người trồng rừng cũng có những khó khăn riêng. Phần lớn diện tích rừng hiện thuộc các hộ gia đình quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn chế nên phải khai thác sau 3-5 năm để có tiền tái đầu tư và trang trải cuộc sống. Ngay cả những hộ kéo dài chu kỳ trên 7 năm cũng không ít trường hợp chưa hoàn thiện được hồ sơ chứng minh nguồn gốc nên khó bán cho doanh nghiệp chế biến sâu.

ước ta không thiếu rừng trồng cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp gỗ, chỉ thiếu nguồn cung gỗ lớn có chất lượng tốt, ổn định, hợp pháp và phù hợp chế biến sâu.
Nước ta không thiếu rừng trồng cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp gỗ, chỉ thiếu nguồn cung gỗ lớn có chất lượng tốt, ổn định, hợp pháp và phù hợp chế biến sâu.

Khoảng cách giữa nhu cầu của doanh nghiệp và quyết định của người trồng rừng vì thế ngày càng rõ. Một bên cần gỗ lớn để nâng giá trị sản phẩm; bên còn lại ưu tiên thu hồi vốn nhanh nhằm giảm rủi ro trước thiên tai và biến động thị trường.

Muốn thay đổi thực trạng này, nhiều doanh nghiệp cho rằng cần điều chỉnh chính sách theo hướng khuyến khích chế biến sâu thay vì tiếp tục ưu tiên xuất khẩu nguyên liệu thô. Các giải pháp được đề xuất gồm nghiên cứu tăng thuế xuất khẩu dăm gỗ, áp dụng hạn ngạch phù hợp, đồng thời rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các cơ sở băm dăm, điểm thu mua và trạm cân không đáp ứng quy định để ổn định thị trường nguyên liệu.

Quan trọng hơn, việc phát triển vùng nguyên liệu cần được đặt trong chuỗi liên kết bền vững giữa người trồng rừng, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến.

Tổng Thư ký VIFOREST - ông Ngô Sỹ Hoài nhận định Việt Nam không thiếu rừng trồng, nhưng đang thiếu nguồn gỗ lớn có chất lượng, hợp pháp, ổn định và phù hợp cho chế biến sâu. Theo ông, muốn tháo gỡ nghịch lý này cần đồng thời xử lý bốn vấn đề cốt lõi gồm quy mô đất đai còn phân tán, hiệu quả kinh tế của gỗ lớn chưa đủ hấp dẫn, chất lượng giống và kỹ thuật lâm sinh còn hạn chế, cùng với mối liên kết giữa doanh nghiệp và người trồng rừng vẫn chưa chặt chẽ.

Bên cạnh các giải pháp về chính sách, tư duy phát triển rừng cũng cần thay đổi. Thay vì xem rừng là nguồn sinh khối để khai thác sớm, cần chuyển sang mô hình quản lý rừng trồng bền vững, lựa chọn giống phù hợp, kéo dài chu kỳ khai thác, quản lý chất lượng rừng và hướng tới các chứng chỉ quốc tế. Khi đó, giá trị của khu rừng sẽ không chỉ được tính bằng sản lượng gỗ, mà còn bằng chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và giá trị carbon.

Ông Nguyễn Văn Diện - Phó Cục trưởng Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết đã đến lúc ngành gỗ chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao giá trị xuất khẩu. Nguồn nguyên liệu muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu phải đáp ứng đồng thời 5 yêu cầu gồm hợp pháp, truy xuất đầy đủ nguồn gốc, không gây mất rừng, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững và phát thải carbon thấp.

Định hướng phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn, mở rộng diện tích rừng đạt chứng chỉ, số hóa hệ thống truy xuất nguồn gốc, thúc đẩy liên kết giữa chủ rừng và doanh nghiệp, cùng với hoàn thiện cơ chế về tín dụng, bảo hiểm rừng, dịch vụ môi trường rừng và thị trường tín chỉ carbon sẽ là nền tảng để ngành gỗ hướng tới mục tiêu xuất khẩu 19 tỷ USD trong năm 2026 bằng các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao hơn, thay vì tiếp tục dựa nhiều vào xuất khẩu nguyên liệu thô.

Tin bài khác
Chủ tịch VARS: Hệ số K kéo chi phí đất tăng 2-2,6 lần nhưng người dân được lợi

Chủ tịch VARS: Hệ số K kéo chi phí đất tăng 2-2,6 lần nhưng người dân được lợi

Góp ý dự án Luật Đất đai (sửa đổi), TS.Nguyễn Văn Đính, Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam (VARS) cho rằng, bảng giá đất nhân hệ số K cần được điều chỉnh sát thực tế nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích ba bên: Nhà nước - người dân - doanh nghiệp.
Doanh nghiệp Việt phải giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi sản xuất

Doanh nghiệp Việt phải giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi sản xuất

Muốn tiến tới nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam không thể chỉ dựa vào mở rộng sản xuất và xuất khẩu. Thách thức lớn hơn là giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, làm chủ công nghệ và giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn.
Nhà khoa học đứng sau công nghệ lọc nước giá rẻ: “Tôi thực sự ngưỡng mộ tầm nhìn của VinFuture”

Nhà khoa học đứng sau công nghệ lọc nước giá rẻ: “Tôi thực sự ngưỡng mộ tầm nhìn của VinFuture”

Bốn năm sau khi được vinh danh với Giải Đặc biệt VinFuture dành cho Nhà khoa học đến từ các nước đang phát triển, GS. Thalappil Pradeep trở lại VinFuture với tư cách thành viên Hội đồng Giải thưởng. Trong vai trò mới, nhà khoa học đứng sau những công nghệ giúp hàng triệu người tiếp cận nguồn nước sạch với chi phí thấp nhấn mạnh rằng tác động xã hội mới là thước đo quan trọng của một nền khoa học phụng sự nhân loại.
Giảm lãi suất cần đi cùng khơi thông khả năng hấp thụ vốn

Giảm lãi suất cần đi cùng khơi thông khả năng hấp thụ vốn

Giảm lãi suất là tín hiệu tích cực đối với doanh nghiệp, song hiệu quả của chính sách còn phụ thuộc vào sức cầu thị trường, khả năng tiếp cận tín dụng và sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa.
Gỡ nút thắt, mở đường cho điện xanh trong khu công nghiệp

Gỡ nút thắt, mở đường cho điện xanh trong khu công nghiệp

Điện xanh đang trở thành lợi thế cạnh tranh của nền công nghiệp hiện đại. Từ cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), điện mặt trời mái nhà đến lưu trữ năng lượng, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thế Duy đề xuất tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động tiếp cận nguồn năng lượng sạch.
ESTA hướng đến kết nối lao động kỹ thuật Việt Nam với doanh nghiệp Mỹ

ESTA hướng đến kết nối lao động kỹ thuật Việt Nam với doanh nghiệp Mỹ

Ngày 17/10, Newland USA ra mắt chương trình ESTA, kết nối lao động kỹ thuật Việt Nam với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp Mỹ theo diện visa định cư EB-3, trước mắt tập trung vào lĩnh vực sửa chữa ô tô và bảo trì máy móc công nghiệp.
Doanh nghiệp Việt muốn hút vốn ngoại cần bắt đầu từ năng lực quản trị

Doanh nghiệp Việt muốn hút vốn ngoại cần bắt đầu từ năng lực quản trị

Cơ hội tiếp cận nhà đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra với doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để chuyển sự quan tâm thành dòng vốn và hợp đồng dài hạn, doanh nghiệp cần chứng minh năng lực quản trị, minh bạch tài chính và khả năng duy trì các tiêu chuẩn vận hành nhất quán.
Đánh thuế đất bỏ hoang cần đúng đối tượng

Đánh thuế đất bỏ hoang cần đúng đối tượng

Đề xuất áp thuế 0,2% với đất bỏ hoang, không sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng đang đặt ra yêu cầu quan trọng: phân biệt rõ hành vi găm giữ đất với những dự án chậm triển khai vì nguyên nhân khách quan.
Thị trường điện cạnh tranh đã đến lúc bước ra khỏi "phòng thí nghiệm"

Thị trường điện cạnh tranh đã đến lúc bước ra khỏi "phòng thí nghiệm"

Việc Nhà máy điện mặt trời TTC Đức Huệ 2 ở Tây Ninh chính thức bán điện trực tiếp cho Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên ở tỉnh Thái Nguyên từ ngày 1-6-2026 có thể xem là một cột mốc đáng chú ý của ngành điện lực(***). Sau nhiều năm tranh luận, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) cuối cùng đã đi từ chính sách trên giấy sang giao dịch thực tế.
Cần đổi cách nhìn về sụt lún và ngập lụt ở TP. Hồ Chí Minh

Cần đổi cách nhìn về sụt lún và ngập lụt ở TP. Hồ Chí Minh

Sụt lún và ngập lụt TP. Hồ Chí Minh đang chịu tác động đồng thời từ sụt lún mặt đất, mưa cực đoan, triều cường, nước biển dâng và đô thị hóa. Các chuyên gia đề xuất chuyển sang quan trắc, dự báo sớm và quản trị rủi ro bằng dữ liệu.
Tín dụng mở thêm dư địa, du lịch cần gì để giữ dòng tiền?

Tín dụng mở thêm dư địa, du lịch cần gì để giữ dòng tiền?

Quy định mới của Ngân hàng Nhà nước tạo thêm dư địa tín dụng cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng và các dự án gắn với du lịch. Nhưng vốn chỉ là một mắt xích, hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng hình thành sản phẩm, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách.
Nhà nước mua lại dự án bất động sản: Định giá thế nào để không lãng phí ngân sách?

Nhà nước mua lại dự án bất động sản: Định giá thế nào để không lãng phí ngân sách?

Đề xuất Nhà nước mua lại những dự án nhà ở thương mại mà chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng đang mở thêm một hướng xử lý các dự án bất động tồn đọng. Nhưng khi Nhà nước trở thành bên mua, câu hỏi quan trọng không chỉ là mua dự án nào mà còn là mua với giá nào, dựa trên căn cứ nào và kiểm soát ra sao để không biến việc giải cứu tài sản đình trệ thành gánh nặng ngân sách.
Chủ sở hữu hưởng lợi: Khi “bức bình phong” che khuất người kiểm soát thực sự

Chủ sở hữu hưởng lợi: Khi “bức bình phong” che khuất người kiểm soát thực sự

Những lớp sở hữu, pháp nhân trung gian hay người đại diện có thể khiến việc nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi (CSHHL) trở nên phức tạp, đặc biệt tại các doanh nghiệp FDI và tập đoàn có cấu trúc sở hữu nhiều tầng. Bài toán này không chỉ đặt ra trách nhiệm cho doanh nghiệp mà còn liên quan đến yêu cầu minh bạch, phòng chống rửa tiền và bảo vệ quyền lợi của chính người hưởng lợi cuối cùng.
Làm sạch mã số thuế: Đề xuất phân loại tình trạng  doanh nghiệp để xử lý phù hợp

Làm sạch mã số thuế: Đề xuất phân loại tình trạng doanh nghiệp để xử lý phù hợp

Chiến dịch làm sạch mã số thuế đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế xử lý đối với tình trạng thực tế cụ của doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ kinh doanh hoặc còn tồn tại nghĩa vụ thuế trên hồ sơ.
Nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi: Doanh nghiệp loay hoay xác định người đứng sau?

Nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi: Doanh nghiệp loay hoay xác định người đứng sau?

Quy định về chủ sở hữu hưởng lợi được bổ sung, làm rõ tại Nghị định 296/2026/NĐ-CP, nhưng với doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu nhiều tầng, sở hữu chéo hoặc có yếu tố vốn FDI, việc xác định cá nhân kiểm soát cuối cùng vẫn là bài toán không đơn giản.
bao-hiem-that-nghiep