| PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính quốc tế mở khóa dòng vốn tăng trưởng mới PGS. TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính kỳ vọng hút 30 tỷ USD mỗi năm |
Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần huy động tối thiểu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư phát triển, tương đương 40% GDP. Trong khi ngân sách nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 20%, phần còn lại - hơn 30 triệu tỷ đồng - phải trông cậy vào khu vực ngoài ngân sách. Đây là bài toán không nhỏ, và theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC tại TP.HCM, Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) chính là một trong những lời giải quan trọng.
Nền kinh tế quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng
PGS. TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, áp lực huy động vốn của giai đoạn này lớn hơn nhiều so với trước, khi bình quân mỗi năm nền kinh tế cần khoảng 6,16 triệu tỷ đồng từ doanh nghiệp, thị trường vốn, hệ thống tài chính và các nguồn quốc tế. Trong khi đó, dù thị trường trái phiếu và chứng khoán đã có bước phát triển đáng kể - quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán hiện tương đương 82,3% GDP - nhưng quy mô vốn hóa không đồng nghĩa với khả năng cung ứng vốn mới cho nền kinh tế.
Ông chỉ ra, năng lực IPO, phát hành thêm cổ phiếu, phát hành trái phiếu doanh nghiệp, hình thành quỹ đầu tư dài hạn và kết nối với nhà đầu tư tổ chức quốc tế của Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn so với nhu cầu thực tế. Hệ quả là nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất nặng vào tín dụng ngân hàng, với dư nợ cho vay đã tương đương 145% GDP - một trong những tỷ lệ cao nhất thế giới.
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm. |
"Nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng dễ dẫn đến rủi ro, an toàn hệ thống tài chính quốc gia và cả nền kinh tế khi gặp cú sốc từ bên ngoài, vì nhà băng buộc phải sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn," ông Huân phân tích.
Chính từ thực trạng này, cùng mục tiêu tăng trưởng bền vững 10% trở lên, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 222/2025/QH15 và Chính phủ ban hành Nghị định 323/2025/NĐ-CP về việc thành lập VIFC tại TP.HCM và Đà Nẵng. VIFC-HCMC hiện đang chuẩn bị đi vào hoạt động sau khi Quy chế hoạt động được ban hành.
Về mục tiêu thu hút vốn nước ngoài theo Nghị quyết 10-NQ/TW - đạt 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký và 150-200 tỷ USD vốn thực hiện trong giai đoạn 2026-2030 - ông Huân cho biết 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã thu hút trên 38 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 58% so với cùng kỳ, và vốn thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%. Nếu duy trì được tốc độ này, mục tiêu của Nghị quyết 10-NQ/TW hoàn toàn khả thi.
Tuy nhiên, ông Huân cũng lưu ý đến một thực tế từ Báo cáo Đầu tư thế giới 2026 của UNCTAD: dòng vốn FDI toàn cầu tuy đã phục hồi từ năm 2025, nhưng chỉ tập trung vào 20 nền kinh tế hàng đầu, chiếm hơn 80% tổng FDI - và Việt Nam chưa nằm trong nhóm này. Dòng vốn thế hệ mới hiện lựa chọn địa điểm dựa trên độ tin cậy của thể chế, khả năng chuyển đổi ngoại tệ, chất lượng hạ tầng, năng lực quản trị dữ liệu và khả năng triển khai dự án đúng tiến độ.
VIFC - kênh dẫn vốn mới, không thay thế hệ thống hiện có
Trước thách thức đó, PGS. TS Nguyễn Hữu Huân khẳng định VIFC chính là công cụ để hiện thực hóa mục tiêu thu hút FDI, khi trở thành kênh giúp nhà đầu tư nước ngoài đi từ tìm kiếm cơ hội, cấu trúc giao dịch, cấp phép đến phát hành, thanh toán, lưu ký và thoái vốn. Ông tin rằng mục tiêu 30-40 tỷ USD vốn nước ngoài mỗi năm có thể đạt được, khi xu hướng FDI toàn cầu đang tập trung vào các lĩnh vực chiến lược như hạ tầng trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, khoáng sản quan trọng và công nghệ chuyển dịch năng lượng - đều là những lĩnh vực Việt Nam đang ưu tiên phát triển.
Điều quan trọng, theo ông, VIFC không thay thế hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán hay dòng vốn FDI hiện có, mà tạo ra các kênh huy động vốn mà thị trường hiện tại chưa cung cấp đầy đủ: vốn ngoại tệ và đa tiền tệ, vốn kỳ hạn dài, quỹ hưu trí và tài sản quốc gia, tín dụng tư nhân, tài chính dự án, trái phiếu quốc tế.
Trả lời câu hỏi về khả năng cạnh tranh với hơn 120 trung tâm tài chính khác trên thế giới, ông Huân cho biết đã nghiên cứu kỹ các mô hình lớn như Singapore và Hong Kong. Theo ông, hai trung tâm này có lợi thế vị trí địa lý đắc địa nhưng lại hạn chế về diện tích, dân số và cơ cấu kinh tế thiên về dịch vụ. Trong khi đó, Việt Nam sở hữu vị trí "ngã tư quốc tế" giữa các tuyến hàng hải Bắc - Nam, Đông - Tây, với TP.HCM chỉ cách khoảng 3 giờ bay tới nhiều nền kinh tế năng động châu Á.
Đặc biệt, ông nhấn mạnh lợi thế "riêng có" của VIFC tại cả TP.HCM và Đà Nẵng là múi giờ khác biệt so với 21 trung tâm tài chính lớn nhất toàn cầu - yếu tố có thể giúp thu hút dòng vốn nhàn rỗi trong thời gian các trung tâm khác nghỉ giao dịch. Là trung tâm "sinh sau đẻ muộn", VIFC còn có lợi thế tận dụng công nghệ hiện đại và bài học kinh nghiệm từ các trung tâm tài chính đi trước.
Về con số cụ thể, ông Huân cho biết đã xây dựng 3 kịch bản đóng góp của VIFC vào GDP: kịch bản thận trọng, cơ sở và tăng tốc, tương ứng với mức huy động 10, 20 và 30 tỷ USD mỗi năm, cùng tỷ lệ giải ngân lần lượt 50%, 60% và 70%. Theo tính toán này, vốn thực giải ngân mỗi năm sẽ đạt tương ứng 130.000 tỷ đồng, 312.000 tỷ đồng và 546.000 tỷ đồng, giúp GDP tăng thêm lần lượt 28.900 tỷ đồng, 69.300 tỷ đồng và 121.300 tỷ đồng.
Ngoài tác động trực tiếp về lượng vốn, ông cho rằng VIFC còn tạo ra ba hiệu ứng chất lượng quan trọng: kéo dài kỳ hạn vốn, giảm rủi ro kỳ hạn của hệ thống ngân hàng; giảm chi phí vốn nhờ cạnh tranh, xếp hạng tín nhiệm và minh bạch; đồng thời tạo áp lực nâng chuẩn quản trị doanh nghiệp, báo cáo tài chính và công bố thông tin theo tiêu chuẩn ESG.
"Việc xây dựng, vận hành và phát triển VIFC có tính cạnh tranh tại Việt Nam sẽ góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số," ông Huân khẳng định, đồng thời nhấn mạnh đây cũng là bước đi giúp nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế, bảo đảm an ninh tài chính từ sớm, từ xa.