Đây cũng là lý do Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu phải xử lý thực chất bài toán tiếp cận tín dụng, không để những doanh nghiệp có dự án tốt mất cơ hội kinh doanh chỉ vì thiếu vốn.
Vốn đã tăng, nhưng doanh nghiệp vẫn gặp khó
Tại cuộc làm việc ngày 10/8 tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chủ trì cuộc họp với các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhằm giải quyết khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận vốn tín dụng.
![]() |
| Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chủ trì cuộc làm việc (Ảnh: chinhphu.vn/Đức Tuân). |
Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Ngọc Cảnh, năm 2026, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15% và sẽ điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời bảo đảm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống.
Đến ngày 31/7/2026, dư nợ toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp đạt gần 11 triệu tỷ đồng, chiếm 53,3% tổng dư nợ. Trong đó, doanh nghiệp tư nhân có dư nợ trên 9,1 triệu tỷ đồng, còn doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt trên 3,9 triệu tỷ đồng.
Nguồn cung vốn cũng đang được mở rộng. NHNN đã nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính trong tỷ lệ LDR lên 50%, đồng thời nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn lên 40%.
Các điều chỉnh này được kỳ vọng góp phần đáp ứng nhu cầu vốn tăng thêm khoảng 1,7 triệu tỷ đồng cho 35 dự án trọng điểm.
Từ tháng 8/2026, NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại triển khai các gói tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng. Đến nay, 4 ngân hàng thương mại đã đăng ký tham gia với quy mô dự kiến khoảng 210.000 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn mặt bằng hiện tại.
Cùng với đó là các chương trình tín dụng ưu đãi trong từng lĩnh vực. Doanh số giải ngân lũy kế đối với nông, lâm, thủy sản đạt gần 230.000 tỷ đồng; chương trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đạt 4.500 tỷ đồng; chương trình nhà ở xã hội đạt 13.665 tỷ đồng.
Nhưng những con số này chưa khép lại câu chuyện tiếp cận vốn.
Doanh nghiệp cần vốn có thể dự báo
Phó Tổng thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Đậu Anh Tuấn cho biết cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận những kết quả tích cực trong điều hành tiền tệ, tín dụng thời gian qua.
Tuy nhiên, theo ông, dù tín dụng toàn hệ thống tăng khá cao, nhiều doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông, lâm, thủy sản vẫn khó tiếp cận vốn hoặc phải vay với chi phí cao.
Điều doanh nghiệp cần vì thế không dừng ở việc giảm lãi suất.
“Không chỉ cần lãi suất thấp hơn, doanh nghiệp cần nguồn vốn đủ dài, ổn định và có thể dự báo để chủ động tính toán chi phí sản xuất, kinh doanh”, ông Đậu Anh Tuấn nói.
Đây là vấn đề đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn đang tăng mạnh.
Theo NHNN, nhu cầu vốn tăng trưởng rất lớn, nhất là nguồn vốn trung và dài hạn để thực hiện các dự án công trình trọng điểm quốc gia. Trong khi đó, huy động vốn của các tổ chức tín dụng chủ yếu vẫn là nguồn vốn ngắn hạn và đang tăng chậm hơn tăng trưởng tín dụng.
Sự lệch pha này tạo sức ép lên mặt bằng lãi suất, đồng thời đặt ra yêu cầu phải cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.
Tài sản thế chấp không thể là thước đo duy nhất
Một vấn đề khác được doanh nghiệp đặt lên bàn là phương thức thẩm định tín dụng.
Ông Lưu Công Thành - Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, cho biết một trong những điểm nghẽn lớn là tín dụng vẫn phụ thuộc nhiều vào bất động sản thế chấp. Trong khi đó, việc cho vay dựa trên dòng tiền, hợp đồng, hóa đơn, hàng hóa còn hạn chế do thiếu dữ liệu kiểm chứng và mô hình chấm điểm phù hợp.
Quan điểm của doanh nghiệp cũng được ông Thành nói rõ: “Doanh nghiệp không đề nghị hạ chuẩn tín dụng, cũng không mong Nhà nước hay ngân hàng chịu toàn bộ rủi ro. Điều doanh nghiệp mong muốn là được đánh giá đầy đủ hơn, không chỉ bằng tài sản đang sở hữu mà còn bằng dòng tiền, đơn hàng, năng lực quản trị và công nghệ”.
Nếu cách đánh giá tín dụng có thể phản ánh đầy đủ hơn năng lực vận hành thực tế, những doanh nghiệp có thị trường, có đơn hàng và có dòng tiền sẽ có thêm cơ hội tiếp cận vốn mà không nhất thiết phải sở hữu lượng tài sản thế chấp lớn.
Đây cũng là hướng mà các bộ, ngành, địa phương và tổ chức tín dụng đề cập tại cuộc làm việc: tăng chia sẻ dữ liệu thuế, hải quan, doanh nghiệp để hỗ trợ thẩm định, mở rộng cho vay dựa trên dòng tiền và xếp hạng tín nhiệm.
Ngân hàng cũng chịu áp lực về nguồn vốn
Từ phía hệ thống ngân hàng, ông Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, cho rằng ba vấn đề doanh nghiệp quan tâm nhất hiện nay là khả năng vay được nhiều vốn hơn, lãi suất thấp hơn và thời hạn vay dài hơn.
Nhưng bài toán không chỉ nằm ở phía ngân hàng.
![]() |
| Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, năm 2026, Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15% và sẽ điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời bảo đảm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống. |
Theo ông Tú, khó khăn hiện nay còn liên quan đến nội tại doanh nghiệp, ngân hàng thương mại và sự phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các bên. Vì vậy, không thể đặt toàn bộ nhu cầu vốn trung và dài hạn lên hệ thống ngân hàng mà cần phát triển mạnh thị trường vốn, thị trường chứng khoán và trái phiếu.
Ở phía các ngân hàng thương mại, việc giảm chi phí cho vay vẫn đang được triển khai. Các ngân hàng cũng đã cho vay tín chấp, cho vay dựa trên dòng tiền và không hoàn toàn phụ thuộc vào tài sản bảo đảm.
Tuy nhiên, điều kiện quan trọng vẫn là doanh nghiệp phải có dòng tiền, dữ liệu tài chính minh bạch và đủ độ tin cậy để ngân hàng thẩm định.
Như vậy, bài toán vốn đang trở thành một quan hệ hai chiều. Ngân hàng cần thêm dữ liệu và cơ sở để kiểm soát rủi ro; doanh nghiệp cần một phương thức đánh giá phản ánh sát hơn năng lực tạo tiền và khả năng trả nợ.
Vốn phải đến đúng nơi và tạo ra năng lực sản xuất mới
Kết luận cuộc làm việc, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu không chỉ tăng lượng tín dụng mà phải nâng cao chất lượng và hiệu quả cung ứng tín dụng, đồng thời nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh: “Vốn phải đến đúng nơi, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng mục đích và với chi phí hợp lý”.
Theo Phó Thủ tướng, tín dụng phải tạo ra năng lực sản xuất mới, năng suất mới và động lực tăng trưởng mới.
Đây là yêu cầu có ý nghĩa trực tiếp với doanh nghiệp. Một khoản vay chỉ thực sự có giá trị khi đến đúng thời điểm doanh nghiệp cần vốn để mở rộng sản xuất, thực hiện đơn hàng, đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ hoặc tham gia chuỗi cung ứng.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đề nghị tiếp tục giảm chi phí vốn, phấn đấu giảm thực chất lãi suất cho vay. NHNN tiếp tục điều hành lãi suất tiền tệ chủ động, linh hoạt, tạo điều kiện giảm mặt bằng lãi suất cho vay phù hợp với diễn biến lạm phát, tỷ giá và các cân đối vĩ mô.
Các tổ chức tín dụng được yêu cầu tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao năng suất và giảm chi phí trung gian để tạo dư địa hạ lãi suất cho vay.
Phó Thủ tướng cũng lưu ý phải nhìn vào chi phí vốn thực tế mà doanh nghiệp phải trả, thay vì chỉ quan tâm đến lãi suất công bố. Lãi suất, phí và các chi phí liên quan cần minh bạch hơn để doanh nghiệp có thể lựa chọn và tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý.
Cùng với đó, các ngân hàng cần kiểm soát, không để cán bộ nhũng nhiễu, tiêu cực, làm khó doanh nghiệp.
Đối với những lĩnh vực Nhà nước ưu tiên, các tổ chức tín dụng được đề nghị nghiên cứu các gói tín dụng có lãi suất ưu đãi, thời hạn và phương thức trả nợ phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Các nhóm được ưu tiên gồm công nghiệp chế biến chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu, nông nghiệp công nghệ cao, logistics, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng và các động lực tăng trưởng mới.
Yêu cầu được đặt ra không chỉ là có gói tín dụng, mà ưu đãi phải thực chất, đúng đối tượng, thủ tục đơn giản và doanh nghiệp có khả năng tiếp cận được.
Trong khi thị trường vốn cần thêm thời gian để phát triển, tín dụng ngân hàng vẫn là một trong những kênh cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế. Vì vậy, khơi thông dòng vốn không chỉ là câu chuyện của ngân hàng.
Đó là câu chuyện về khả năng doanh nghiệp biến vốn thành sản xuất, đơn hàng, công nghệ, việc làm và tăng trưởng.
Trong mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, một doanh nghiệp có dự án tốt nhưng không tiếp cận được nguồn vốn phù hợp sẽ không chỉ mất một khoản vay. Họ có thể mất cả một cơ hội kinh doanh.