Cục Đường sắt Việt Nam vừa trình Bộ Xây dựng phương án quy hoạch hệ thống đường sắt khu vực đầu mối TP. Hồ Chí Minh. Theo đề xuất, mạng lưới gồm 8 tuyến đường sắt, trong đó có một tuyến hiện hữu và 7 tuyến, đoạn tuyến xây dựng mới, với tổng chiều dài trong phạm vi nghiên cứu khoảng 508 km.
Bên cạnh hệ thống tuyến, phương án quy hoạch còn đề xuất 4 ga đầu mối Trảng Bom, An Bình, Tân Kiên và Thủ Thiêm, với tổng diện tích khoảng 359,2 ha. Tổng nhu cầu sử dụng đất cho toàn bộ quy hoạch khoảng 2.911,5 ha, trong đó giai đoạn đến năm 2030 cần khoảng 2.171,6 ha.
![]() |
| TP. Hồ Chí Minh dự kiến cần 544.231 tỷ đồng phát triển mạng lưới đường sắt |
Theo dự thảo quy hoạch, tổng nhu cầu vốn đầu tư hệ thống đường sắt khu vực đầu mối TP. Hồ Chí Minh dự kiến khoảng 544.231 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn đến năm 2030 cần khoảng 92.673 tỷ đồng, còn giai đoạn 2031-2050 khoảng 451.558 tỷ đồng.
Nhu cầu vốn lớn tập trung chủ yếu ở giai đoạn sau năm 2030, khi thành phố và khu vực tiếp tục hoàn thiện các tuyến đường sắt liên vùng, kết nối cảng biển, khu vực công nghiệp, logistics và các đô thị vệ tinh.
Theo dự báo, đến năm 2050, nhu cầu vận tải đường sắt tại khu vực đầu mối TP. Hồ Chí Minh có thể đạt khoảng 85,03-102,17 triệu lượt hành khách và 41,28-45,34 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Đây là cơ sở để xác định quy mô mạng lưới, công suất các tuyến và các ga đầu mối.
Giai đoạn đến năm 2030, dự thảo quy hoạch ưu tiên khởi công 3 tuyến gồm đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam; tuyến Biên Hòa - Vũng Tàu giai đoạn 1, đầu tư từ An Bình/Trảng Bom đến Thị Vải và các nhánh kết nối cảng; cùng tuyến TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau giai đoạn 1, trước mắt xây dựng đường đơn đoạn TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ.
Trong mạng lưới được đề xuất, tuyến đường sắt Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh hiện hữu có khổ đường 1.000 mm, phạm vi nghiên cứu khoảng 34 km, từ ga Trảng Bom đến ga An Bình.
Tuyến An Bình - Sài Gòn (Hòa Hưng) - Tân Kiên dài khoảng 33 km, xây dựng mới theo tiêu chuẩn đường đôi, khổ 1.435 mm, vừa phục vụ đường sắt quốc gia vừa kết nối với đường sắt đô thị.
Tuyến Biên Hòa - Vũng Tàu có tổng chiều dài 132 km, đường đôi, khổ 1.435 mm. Trong đó, tuyến chính từ An Bình đến Vũng Tàu dài 103,19 km; đoạn Trảng Bom - Phước Tân dài 8,4 km và các nhánh kết nối cụm cảng Thị Vải, Cái Mép và Trung tâm Logistics Cái Mép Hạ dài 20,41 km.
Tuyến TP. Hồ Chí Minh - Lộc Ninh có chiều dài khoảng 52 km trong phạm vi nghiên cứu, từ ga An Bình đến ga Bàu Bàng; tuyến TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau dài khoảng 82 km, từ ga An Bình đến ga Tam Hiệp. Cả hai tuyến được đề xuất theo tiêu chuẩn đường đôi, khổ 1.435 mm.
Đối với đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, phạm vi nghiên cứu khoảng 60 km, gồm tuyến chính từ ga Thủ Thiêm đến Cảng hàng không quốc tế Long Thành dài 35 km và đoạn Cẩm Mỹ - Trảng Bom dài 25 km. Cả hai đoạn được đề xuất đường đôi, điện khí hóa, khổ 1.435 mm.
Tuyến TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài (Tây Ninh) dài khoảng 61 km, đường đôi, khổ 1.435 mm; đồng thời có đoạn kết nối khoảng 3,8 km với tuyến TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau.
Tuyến còn lại kết nối cảng Hiệp Phước và cảng Long An dài khoảng 54 km, đường đôi, điện khí hóa, khổ 1.435 mm, từ ga Thạnh Đức tới các ga trong khu vực hai cảng.
Cùng với các tuyến đường sắt, 4 ga đầu mối được xác định là những điểm quan trọng trong tổ chức vận tải hàng hóa, hành khách và kết nối các loại hình giao thông.
Ga An Bình có quy mô khoảng 173 ha, là ga đầu mối lớn nhất trong số 4 ga được đề xuất, đảm nhận cả chức năng hàng hóa và hành khách, đồng thời là điểm trung chuyển giữa đường sắt quốc gia với các phương tiện giao thông công cộng. Đây cũng là ga đầu, cuối của tuyến đường sắt Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh hiện hữu.
Ga Tân Kiên có diện tích khoảng 105,1 ha, được quy hoạch làm đầu mối cả hàng hóa và hành khách. Khu vực này dự trữ quỹ đất để tổ chức đón, gửi và đỗ các đoàn tàu đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam kết nối với mạng đường sắt đầu mối TP. Hồ Chí Minh.
Ga Trảng Bom có diện tích khoảng 63,9 ha, giữ vai trò đầu mối hàng hóa, trung chuyển giữa tuyến đường sắt Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh hiện hữu và tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam thông qua đoạn Cẩm Mỹ - Trảng Bom.
Trong khi đó, ga Thủ Thiêm có diện tích khoảng 17,2 ha, được xác định là đầu mối hành khách, ga đầu, cuối của tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; đồng thời kết nối với tuyến đường sắt đô thị số 2 và tuyến Thủ Thiêm - Long Thành.
Việc nghiên cứu mạng lưới đường sắt quy mô lớn được đặt trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh đang mở rộng không gian phát triển và nhu cầu kết nối giữa đô thị trung tâm với các khu vực công nghiệp, cảng biển, logistics và các tỉnh, thành lân cận ngày càng tăng.
Với cấu trúc 8 tuyến, mạng lưới được đề xuất sẽ tạo các hướng kết nối quan trọng từ TP. Hồ Chí Minh tới Vũng Tàu, Lộc Ninh, Mộc Bài, Cần Thơ - Cà Mau, đồng thời kết nối các cảng biển lớn ở khu vực phía Nam và gắn với mạng đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam.
Đáng chú ý, phạm vi nghiên cứu của quy hoạch không chỉ tập trung vào địa bàn TP. Hồ Chí Minh mà còn bao gồm các hành lang kết nối với Đồng Nai, Tây Ninh, Long An và các khu vực lân cận. Điều này nhằm hình thành một mạng đường sắt có tính liên kết vùng thay vì phát triển các tuyến độc lập.
Tuy nhiên, 544.231 tỷ đồng hiện mới là tổng nhu cầu vốn dự kiến trong hồ sơ dự thảo quy hoạch, không phải tổng mức đầu tư đã được phê duyệt cho các dự án. Việc triển khai từng tuyến sẽ còn phụ thuộc vào quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phương án huy động nguồn lực, phân kỳ đầu tư và quá trình chuẩn bị dự án.
Nếu được cụ thể hóa theo lộ trình đề xuất, mạng lưới này sẽ tạo thêm năng lực vận tải khối lượng lớn, giảm áp lực cho đường bộ và tăng khả năng kết nối giữa TP. Hồ Chí Minh với các trung tâm công nghiệp, logistics, cảng biển và các đô thị trong vùng. Đây cũng là nền tảng để thành phố từng bước hình thành hệ thống vận tải đường sắt có tính liên thông cao hơn trong giai đoạn đến năm 2050.