| Bài liên quan |
| Hoàn thiện khung pháp lý để công nghiệp văn hóa bứt phá |
| Phát triển công nghiệp văn hóa: Đề xuất hoàn thuế VAT cho đoàn phim nước ngoài tại Việt Nam |
Chiều 24/9, tại phiên họp thứ 6, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa do Chính phủ trình. Đây là lần đầu Việt Nam xây dựng một đạo luật chuyên biệt, có tính tổng thể về phát triển công nghiệp văn hóa.
Trình bày Tờ trình, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết việc xây dựng luật nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam; đồng thời tạo hành lang pháp lý theo hướng kiến tạo và bảo vệ, khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo và gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ.
Dự thảo gồm 9 chương, 53 điều, tập trung vào 6 nhóm nội dung chính: phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; nhân lực; hạ tầng; thị trường; tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh. |
Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo là đề xuất áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, quy trình và mô hình kinh doanh mới trong các ngành công nghiệp văn hóa.
Theo đề xuất, cơ chế này có thể áp dụng đối với những lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, phần mềm, nội dung số, trò chơi điện tử... trong trường hợp hoạt động, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh chưa được pháp luật quy định hoặc có nội dung khác với quy định hiện hành.
Cách tiếp cận này hướng tới tạo không gian thử nghiệm cho các sản phẩm, dịch vụ và mô hình mới, qua đó vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, vừa đặt hoạt động thử nghiệm trong khuôn khổ kiểm soát của cơ quan quản lý.
Cùng với sandbox, dự thảo lần đầu đề xuất cơ chế khai thác giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Theo đó, tài sản trí tuệ có thể được sử dụng để góp vốn hoặc làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay tín dụng; đồng thời đề xuất cơ chế hỗ trợ định giá, lập mã định danh và hồ sơ số đối với loại tài sản này.
Tuy nhiên, đây cũng là nội dung cần tiếp tục được cân nhắc. Cơ quan thẩm tra lưu ý Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm trong định giá tài sản trí tuệ, do đó đề nghị dự thảo chủ yếu quy định nguyên tắc và vai trò quản lý nhà nước, tránh đi quá sâu vào các quy định mang tính hành chính.
Đối với nhân lực, dự thảo đưa ra một số cơ chế nhằm thu hút và phát huy đội ngũ có chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực văn hóa.
Đáng chú ý, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú nếu đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định được đề xuất công nhận đủ điều kiện giảng dạy tại các cơ sở giáo dục mà không bị hạn chế bởi yêu cầu về văn bằng chuyên môn.
Dự thảo cũng đề xuất chính sách ưu đãi đối với nhân lực chất lượng cao trong công nghiệp văn hóa, trong đó có nội dung miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm nếu đáp ứng các điều kiện cụ thể. Chuyên gia và thành viên gia đình là người nước ngoài thuộc diện được hưởng chính sách cũng được đề xuất cơ chế về thẻ tạm trú ưu đãi.
Ở khía cạnh hạ tầng và thị trường, dự thảo đưa ra một số cơ chế nhằm tạo thêm không gian cho sản phẩm văn hóa Việt Nam. Theo đề xuất, các dự án xây dựng công trình mới như chung cư, công trình thương mại, ga hàng không, công viên... phải dành tối thiểu 0,1% chi phí xây dựng, nhưng không quá 10 tỷ đồng, để mua sắm sản phẩm văn hóa hoặc bố trí không gian trưng bày, phát triển sản phẩm văn hóa Việt Nam.
Chính phủ cũng đề xuất ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 30% chi phí sản xuất tại Việt Nam đối với các dự án văn hóa có giá trị kinh tế cao; đồng thời hoàn thuế giá trị gia tăng 100% cho các đoàn làm phim nước ngoài sử dụng bối cảnh tại Việt Nam.
Những đề xuất này, nếu được hoàn thiện và thông qua, sẽ tác động trực tiếp đến cách thức huy động nguồn lực xã hội cho các hoạt động sáng tạo, sản xuất và phổ biến sản phẩm văn hóa.
Báo cáo thẩm tra, Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát nhiều nội dung để bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.
Đối với các chính sách ưu đãi thuế, cơ quan thẩm tra đề nghị quy định tại các luật thuế chuyên ngành nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và cân đối nguồn lực ngân sách nhà nước. Với chính sách liên quan đến tài sản trí tuệ, cơ quan thẩm tra lưu ý cần tính đến những hạn chế về kinh nghiệm định giá trên thực tế.
Một vấn đề khác được đặt ra là phạm vi điều chỉnh và việc xác định những ngành, lĩnh vực thực sự cần ưu tiên. Tại phiên họp, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến đề nghị tiếp tục rà soát phạm vi điều chỉnh, tập trung nguồn lực vào 6 ngành văn hóa cốt lõi, trọng tâm theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Các cơ quan soạn thảo và thẩm tra đồng thời được đề nghị phối hợp đánh giá cụ thể hơn tác động của những chính sách mới đối với ngân sách nhà nước, cũng như mức độ tương thích, đồng bộ với các luật có liên quan.
Về tiến độ, Chính phủ đề xuất Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa theo quy trình rút gọn tại kỳ họp thứ 2.
Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra cho rằng đây là dự án luật mới, phạm vi điều chỉnh rộng, nhiều nội dung có tính chất phức tạp và còn có ý kiến khác nhau. Vì vậy, cơ quan thẩm tra đề xuất Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2 và xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 3 của Quốc hội khóa XVI, qua đó có thêm thời gian tiếp tục hoàn thiện dự thảo.
Tổng kết phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến tán thành hướng xử lý này. Theo đó, dự kiến dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2 và xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 3.
Việc xây dựng một đạo luật riêng về công nghiệp văn hóa được đặt trong yêu cầu tạo lập khung pháp lý đủ rộng để khuyến khích sáng tạo, đồng thời đủ rõ để quản lý các nguồn lực và chính sách hỗ trợ. Quá trình hoàn thiện dự thảo vì vậy sẽ cần tiếp tục cân đối giữa yêu cầu tạo động lực phát triển với khả năng thực thi, tác động ngân sách và sự thống nhất của hệ thống pháp luật.