Một vùng trồng muốn đi vào chuỗi xuất khẩu chính ngạch ngày càng khó có thể chỉ dựa vào sản lượng. Nguồn gốc, quy trình canh tác, kiểm soát dịch hại, dư lượng và khả năng truy xuất đang trở thành những điều kiện gắn trực tiếp với khả năng đưa nông sản ra thị trường quốc tế.
Tại Vĩnh Long, quá trình chuẩn hóa đang được thể hiện bằng một mạng lưới mã số vùng trồng ngày càng rộng, tạo nền tảng cho các ngành hàng chủ lực chuyển từ sản xuất phân tán sang quản trị theo chuỗi.
Hơn 27.000 ha đã được chuẩn hóa cho xuất khẩu
Theo thông tin từ tỉnh Vĩnh Long, toàn tỉnh hiện có 1.006 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được cấp mã số, với tổng diện tích 33.960,12 ha. Trong đó, 733 mã số vùng trồng xuất khẩu có diện tích 27.349,64 ha, 202 mã số vùng trồng phục vụ thị trường nội địa với 6.610,48 ha và 71 cơ sở đóng gói xuất khẩu.
![]() |
| Vĩnh Long đã có 733 mã số vùng trồng xuất khẩu với diện tích 27.349,64 ha, tạo nền tảng chuẩn hóa vùng nguyên liệu và đáp ứng yêu cầu truy xuất của các thị trường quốc tế. |
Các vùng trồng xuất khẩu phục vụ nhiều nhóm nông sản chủ lực như sầu riêng, chôm chôm, nhãn, khoai lang, bưởi và dừa, hướng tới những thị trường lớn gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Australia, New Zealand và Hàn Quốc.
Quy mô này cho thấy mã số vùng trồng đang trở thành một bộ phận của hạ tầng xuất khẩu nông sản. Thay vì chỉ xác định sản phẩm được sản xuất ở đâu, hệ thống mã số giúp cơ quan quản lý và các chủ thể trong chuỗi xác định vùng sản xuất, theo dõi quá trình canh tác và phục vụ yêu cầu truy xuất của thị trường nhập khẩu.
Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, thay vì thu mua theo từng mùa vụ mà thiếu khả năng kiểm soát đồng nhất chất lượng.
Mã số vùng trồng không phải “tấm vé” dùng một lần
Điểm quan trọng của mã số vùng trồng nằm ở việc duy trì điều kiện đã đăng ký, chứ không dừng ở thời điểm được cấp mã.
Tại Vĩnh Long, ngành nông nghiệp đang hướng dẫn người dân thực hiện quy trình sản xuất phù hợp từng thị trường, trong đó có ghi chép nhật ký sản xuất, kiểm soát dịch hại, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định, đồng thời thực hiện các yêu cầu về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm. Một số địa phương cũng đang tổ chức tập huấn xây dựng mã số vùng trồng cho các vùng cây ăn trái phục vụ xuất khẩu.
Điều này đặc biệt quan trọng với các thị trường có yêu cầu kiểm soát chặt. Chỉ cần một vùng trồng không duy trì đúng quy trình, nguy cơ phát sinh vi phạm về dư lượng hoặc truy xuất nguồn gốc có thể ảnh hưởng tới cả doanh nghiệp thu mua và chuỗi sản phẩm.
Vì vậy, chi phí để duy trì mã số vùng trồng thực chất là chi phí duy trì năng lực xuất khẩu. Người sản xuất phải thay đổi phương thức canh tác; HTX phải tổ chức, giám sát thành viên; doanh nghiệp phải liên kết vùng nguyên liệu và kiểm soát chất lượng; cơ quan quản lý phải theo dõi, kiểm tra và cập nhật dữ liệu.
Từ mã số đến vùng nguyên liệu của doanh nghiệp
Một trong những thay đổi quan trọng nhất là mã số vùng trồng đang được gắn với yêu cầu hình thành vùng nguyên liệu tập trung.
![]() |
| Với ngành Dừa, diện tích được cấp mã số vùng trồng đã vượt 21.772 ha, trong khi diện tích dừa hữu cơ được chứng nhận đạt hơn 30.708 ha. |
Vĩnh Long hiện có khoảng 98.000 ha cây ăn trái, nhưng diện tích được cấp mã số vùng trồng cho nhóm cây ăn trái mới khoảng 10.000 ha. Con số này cho thấy dư địa chuẩn hóa vẫn còn lớn nếu tỉnh muốn mở rộng xuất khẩu chính ngạch đối với các ngành hàng trái cây.
Với ngành dừa, diện tích được cấp mã số vùng trồng đã vượt 21.772 ha, trong khi diện tích dừa hữu cơ được chứng nhận đạt hơn 30.708 ha. Tỉnh cũng định hướng phát triển dừa theo chuỗi giá trị, tăng diện tích hữu cơ gắn với doanh nghiệp thu mua và chế biến.
Đây là hướng đi có ý nghĩa đối với doanh nghiệp chế biến. Khi vùng nguyên liệu được chuẩn hóa, doanh nghiệp có thể chủ động hơn về nguồn cung, chất lượng và hồ sơ truy xuất, đồng thời tạo điều kiện để đầu tư chế biến sâu thay vì chủ yếu bán nông sản ở dạng nguyên liệu.
Chuẩn hóa sản xuất phải đi cùng chuyển đổi xanh
Mã số vùng trồng cũng đang được đặt trong một quá trình chuyển đổi rộng hơn của nông nghiệp Vĩnh Long.
Sáu tháng đầu năm 2026, diện tích sản xuất hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao của tỉnh đạt 81.405,67 ha, tương đương khoảng 10,51% diện tích sản xuất nông nghiệp. Tỉnh đồng thời triển khai Đề án phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp; riêng vụ Đông Xuân, 8.302 ha được đưa vào đề án và hơn 5.856 ha đã thu hoạch theo quy trình phát thải thấp.
Như vậy, câu chuyện mã số vùng trồng không chỉ liên quan đến thủ tục xuất khẩu. Nó đang kéo theo sự thay đổi trong cách tổ chức sản xuất: từ kiểm soát sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát cả quá trình hình thành sản phẩm.
Đối với doanh nghiệp, đây là điều kiện để nâng chất lượng vùng nguyên liệu và đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường. Với nông dân và HTX, đây là yêu cầu về kỷ luật sản xuất và khả năng liên kết. Còn với địa phương, việc quản lý hơn 1.000 mã số vùng trồng sẽ đòi hỏi hệ thống dữ liệu, giám sát và kiểm tra đủ chặt để những mã số đã cấp thực sự duy trì được giá trị.
27.349 ha đã có mã số xuất khẩu mới là nền tảng. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng biến các vùng trồng đạt chuẩn thành những chuỗi cung ứng ổn định, có doanh nghiệp đồng hành và đủ sức đáp ứng lâu dài các thị trường khó tính.