Thứ hai 07/09/2026 19:16
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Điều chỉnh dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội - Hải Phòng: Bài toán đầu tư lớn và hiệu quả dài hạn

10/08/2026 11:06
Việc điều chỉnh dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng theo hướng đầu tư đồng bộ ngay từ đầu được kỳ vọng nâng hiệu quả, nhưng cũng đặt ra bài toán lớn về vốn và khả năng cân đối tài chính.
Phú Thọ chọn hướng tuyến, ga trung tâm đường sắt Lào Cai – Hải Phòng Đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, bảo đảm tiến độ Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Tờ trình Quốc hội xem xét, thông qua điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Chính phủ đề xuất điều chỉnh quy mô, phạm vi một số đoạn tuyến để phù hợp với quy hoạch, nhu cầu vận tải và điều kiện thực tế.

Theo ông Chu Văn Tuân, Phó giám đốc Ban Quản lý dự án đường sắt, các nội dung điều chỉnh tập trung vào những hạng mục có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng khai thác, kết nối và hiệu quả lâu dài của toàn tuyến.

Một trong những nội dung đáng chú ý là bổ sung đoạn tuyến từ Yên Viên đến Gia Lâm dài khoảng 8,4km, đồng thời cải tạo ga Gia Lâm.

Theo ông Chu Văn Tuân, việc bổ sung đoạn tuyến này nhằm tạo thuận lợi hơn cho hành khách đi tàu, đồng thời tăng nhu cầu vận tải hành khách trên các tuyến phía Bắc sông Hồng.

Theo Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2404/QĐ-TTg ngày 29/10/2025, ga hành khách đầu mối khu vực phía Bắc thành phố Hà Nội được xác định là ga Gia Lâm, thay cho ga Yên Viên như trước đây.

Quyết định số 1093/QĐ-BXD ngày 30/6/2026 của Bộ Xây dựng cũng xác định ga Gia Lâm là ga đầu mối hành khách phía Bắc, kết hợp đường sắt đô thị và đường sắt quốc gia, gồm cả khổ 1.435 mm và khổ 1.000mm.

Việc điều chỉnh được kỳ vọng giúp mạng lưới đường sắt quốc gia kết nối tốt hơn với mạng lưới đường sắt đô thị Hà Nội.

Đáng chú ý, theo định hướng quy hoạch, đoạn Gia Lâm - Yên Viên được xây dựng theo quy mô đường đôi, khổ 1.435mm. Ga Gia Lâm được xác định là ga đầu mối hành khách phía Bắc, kết hợp đường sắt đô thị và đường sắt quốc gia, kết nối 5 tuyến đường sắt quốc gia và 3 tuyến đường sắt đô thị.

Không chỉ phù hợp quy hoạch, nhu cầu vận tải cũng đặt ra yêu cầu phải đầu tư đoạn tuyến này ngay từ đầu.

Kết quả dự báo cho thấy đến năm 2035, nhu cầu khai thác trên đoạn tuyến khoảng 46 đôi tàu khách/ngày đêm, vượt năng lực của tuyến đường đơn. Vì vậy, việc đầu tư tuyến đường đôi ngay từ giai đoạn đầu được đánh giá là cần thiết.

Một yếu tố khác là đoạn Yên Viên - Gia Lâm nằm sâu trong khu vực nội thành, việc giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn. Nếu chỉ đầu tư đường đơn rồi mở rộng thành đường đôi trong tương lai, quá trình thi công sẽ khó khăn, có nguy cơ gây ùn tắc giao thông do nhiều dự án, công trình chồng lấn hành lang hoặc giao cắt với đoạn tuyến.

Điều chỉnh dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội -  Hải Phòng: Bài toán đầu tư lớn và hiệu quả dài hạn
Điều chỉnh dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội - Hải Phòng: Bài toán đầu tư lớn và hiệu quả dài hạn.

Do đó, việc đầu tư cải tạo, nâng cấp đoạn Yên Viên - Gia Lâm và ga Gia Lâm ngay trong Dự án được đánh giá là cần thiết. Phương án này được tính toán giúp tiết kiệm khoảng 8 phút thời gian đi, đến ga hành khách từ khu vực trung tâm thành phố, mang lại lợi ích kinh tế khoảng 10,5 tỷ đồng mỗi năm, đồng thời góp phần sớm tái thiết, phát triển đô thị khu vực ga Gia Lâm theo mô hình TOD.

Chi phí đầu tư đoạn Yên Viên - Gia Lâm và cải tạo ga Gia Lâm tăng khoảng 21.605 tỷ đồng, trong đó chi phí xây dựng khoảng 7.759 tỷ đồng và chi phí giải phóng mặt bằng khoảng 13.846 tỷ đồng.

Một điều chỉnh quan trọng khác là thay đổi quy mô đoạn từ ga Bắc Hồng đến ga Hải Phòng. Thay vì phương án xây dựng đường đơn và dự trữ cho giai đoạn đường đôi, phương án điều chỉnh đề xuất xây dựng đường đôi ngay từ giai đoạn đầu.

Theo quy hoạch, tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng được định hướng theo quy mô đường đôi, khổ 1.435mm.

Kết quả dự báo nhu cầu vận tải cho thấy đến năm 2045, tuyến đường đơn sẽ mãn tải. Trong khi năng lực tối đa của đường đơn khoảng 45 đôi tàu/ngày đêm, nhu cầu khai thác thực tế được dự báo khoảng 42 đôi tàu/ngày đêm.

Nếu chỉ đầu tư đường đơn, đến năm 2041 sẽ phải tiếp tục đầu tư nâng cấp lên đường đôi, đồng nghĩa với việc ngay từ năm 2038 phải triển khai các thủ tục đầu tư.

Theo ông Chu Văn Tuân, điều kiện đặc thù của tuyến cũng là lý do quan trọng để cân nhắc phương án đầu tư đường đôi ngay từ đầu.

Tại đoạn Yên Thường đến nút giao với đường sắt cao tốc Hà Nội - Quảng Ninh, quỹ đất hạn chế, nhiều hạng mục bị chồng lấn giữa các dự án. Nếu thi công thành hai giai đoạn, quá trình vận hành, khai thác sau này có thể bị ảnh hưởng.

Đặc biệt, đoạn Lạc Đạo - Nam Hải Phòng đi qua khu vực có tầng đất yếu dày. Nếu xây dựng đường thứ hai vào giai đoạn sau, quá trình thi công có thể gây xáo trộn lớn, dễ phát sinh lún và ảnh hưởng đến an toàn của đường thứ nhất đang khai thác.

Đầu tư đường đơn có chi phí thấp hơn đường đôi khoảng 6.690 tỷ đồng. Tuy nhiên, nếu tính tổng thể, phương án đầu tư đường đôi một lần lại tiết kiệm khoảng 12.580 tỷ đồng.

Nguyên nhân là phương án này có thể đầu tư cầu đôi thay vì phải xây dựng 2 cầu đơn, đồng thời không phải đầu tư thêm 2 ga kỹ thuật Kim Sơn và Quốc Tuấn.

Cùng với đó, nhu cầu sử dụng đất giảm khoảng 115ha do không phải bố trí thêm khoảng cách giữa công trình cầu cũ và cầu mới để phục vụ việc thi công bổ sung trong tương lai.

Theo tính toán của tư vấn, đầu tư đường đôi đoạn Hà Nội - Hải Phòng ngay từ giai đoạn đầu sẽ nâng cao năng lực thông qua, tạo sự linh hoạt trong tổ chức chạy tàu và nâng vận tốc lữ hành từ khoảng 95km/h lên khoảng 120km/h.

Phương án này đồng thời mang lại lợi ích kinh tế ước tính khoảng 50 tỷ đồng mỗi năm.

Đối với tuyến nhánh kết nối cảng Nam Đồ Sơn, trong quá trình lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi điều chỉnh, tư vấn đã cập nhật các yếu tố mới và đánh giá tiến độ đầu tư cảng Nam Đồ Sơn.

Kết quả cho thấy vị trí, phạm vi, quy mô, lộ trình và phương án đầu tư cảng Nam Đồ Sơn còn phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu chỉnh trị cửa sông Văn Úc.

Trong khi đó, thành phố Hải Phòng đã kêu gọi nhà đầu tư tham gia đầu tư cảng Nam Đồ Sơn nhưng đến nay vẫn chưa có nhà đầu tư.

Trên cơ sở đó, Bộ Xây dựng kiến nghị điều chỉnh theo hướng giao UBND thành phố Hải Phòng chịu trách nhiệm huy động nguồn lực và hiệu quả đầu tư; Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm tổ chức triển khai tuyến nhánh kết nối ga Nam Hải Phòng với khu bến Nam Đồ Sơn đồng thời với tiến độ đầu tư khu bến Nam Đồ Sơn.

Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm việc đầu tư được triển khai phù hợp tiến độ, phát huy hiệu quả và tránh thất thoát, lãng phí.

Sau khi điều chỉnh phạm vi, quy mô và tổng mức đầu tư sơ bộ, Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng được đánh giá mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội tích cực.

Các lợi ích có thể lượng hóa gồm tiết kiệm thời gian cho hành khách và hàng hóa, tiết kiệm chi phí vận hành giữa đường bộ và đường sắt, đồng thời giảm chi phí phát thải CO2.

Dự án cũng được kỳ vọng tạo thêm việc làm, tăng an toàn vận tải đường sắt, giảm thiệt hại về người và tài sản do tai nạn giao thông, thúc đẩy phát triển kinh tế các địa phương dọc tuyến, nâng cao chất lượng cuộc sống và dịch vụ giao thông vận tải theo hướng văn minh, hiện đại.

Đáng chú ý, các chỉ số đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đều được cải thiện so với Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được phê duyệt.

Theo kết quả phân tích, giá trị hiện tại ròng kinh tế (ENPV) đạt 51.936 tỷ đồng, tăng đáng kể so với mức 31.044 tỷ đồng trước đây.

Tỷ suất nội hoàn kinh tế (EIRR) đạt 11,33%, so với 10,64%; chỉ số lợi ích/chi phí (B/C) đạt 1,22, so với 1,10 tại Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được phê duyệt.

Những con số này cho thấy các điều chỉnh về phạm vi và quy mô đầu tư không đơn thuần là việc bổ sung hạng mục hay tăng quy mô công trình, mà hướng tới bài toán hiệu quả tổng thể của dự án.

Không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp về vận tải, Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng còn được kỳ vọng tạo tác động lan tỏa đối với nền kinh tế và các địa phương dọc tuyến.

Theo tính toán, tổng giá trị sản xuất tăng thêm của nền kinh tế ước đạt khoảng 1,3 - 1,5 lần tổng mức đầu tư xây dựng công trình. Trong đó, giá trị gia tăng đóng góp vào GDP ước đạt khoảng 30 - 35% tổng giá trị sản xuất tăng thêm của nền kinh tế.

Dự án tạo việc làm cho khoảng 141.200 lao động. Trong đó, khoảng 130.000 lao động trực tiếp trong giai đoạn thi công, khoảng 3.500 lao động trong giai đoạn vận hành và khoảng 7.700 việc làm cho lao động gián tiếp thông qua thu hút đầu tư, phát triển các ngành dịch vụ.

Về vận tải, dự án góp phần tối ưu hóa thị phần vận tải trên hành lang Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Tỷ lệ đảm nhận vận tải đường sắt ước tăng từ 1,1% lên 12,1% trên đoạn Lào Cai - Hà Nội và từ 1,0% lên 8,1% trên đoạn Hà Nội - Hải Phòng.

Đồng thời, dự án giúp tiết kiệm chi phí logistics khoảng 13.000 - 15.000 tỷ đồng mỗi năm, trong đó khoảng 7.000 - 8.000 tỷ đồng mỗi năm đối với hàng quá cảnh và khoảng 6.000 - 7.000 tỷ đồng mỗi năm đối với hàng nội địa.

Dự án cũng được tính toán giúp tiết kiệm khoảng 5.000 - 8.000ha đất hành lang giao thông so với phương án mở rộng đường bộ.

Một vấn đề được đặt ra trong quá trình điều chỉnh dự án là hiệu quả tài chính. Theo tư vấn, nếu tính toán hiệu quả tài chính trên toàn bộ vốn đầu tư, gồm hạ tầng, phương tiện và thiết bị, dự án không có khả năng tự cân đối tài chính.

Tuy nhiên, đặc điểm này không làm thay đổi vai trò và ý nghĩa của dự án trong bài toán phát triển hạ tầng giao thông.

Theo nội dung báo cáo, thực tế tại Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới cho thấy các dự án đầu tư xây dựng đường sắt thường không có khả năng tự cân đối tài chính và cần có sự hỗ trợ của Nhà nước. Doanh thu từ vận tải hành khách, hàng hóa và các nguồn thu liên quan thường chỉ đủ bù đắp chi phí khai thác, vận hành; một số dự án có thể đảm bảo chi phí bảo trì hạ tầng và hoàn một phần vốn đầu tư phương tiện, đầu máy - toa xe, trang thiết bị.

Nhìn tổng thể, những điều chỉnh đối với Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đang hướng tới một bài toán lớn hơn: Đầu tư đúng quy hoạch, đúng nhu cầu và tính trước những yêu cầu phát triển trong tương lai để hạn chế phải cải tạo, mở rộng khi tuyến đã đưa vào khai thác.

Việc bổ sung đoạn Yên Viên - Gia Lâm, cải tạo ga Gia Lâm; đầu tư đường đôi đoạn Bắc Hồng - Hải Phòng ngay từ đầu; đồng thời gắn tiến độ tuyến nhánh Nam Đồ Sơn với tiến độ đầu tư khu bến cho thấy định hướng điều chỉnh không chỉ nhằm hoàn thiện một tuyến đường sắt, mà còn hướng tới tối ưu hiệu quả khai thác và khả năng kết nối của toàn hệ thống.

Với các chỉ số kinh tế được cải thiện, khả năng tạo việc làm, tiết giảm chi phí logistics, tăng thị phần vận tải đường sắt và tạo thêm giá trị cho nền kinh tế, các điều chỉnh về phạm vi, quy mô và tổng mức đầu tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội tổng thể của Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

Tin bài khác
Chi Ma được quy hoạch thành cực tăng trưởng mới phía Đông Lạng Sơn

Chi Ma được quy hoạch thành cực tăng trưởng mới phía Đông Lạng Sơn

Với cấu trúc 2 hành lang, 3 vùng phát triển, Chi Ma được định hướng không chỉ tăng năng lực thông quan mà còn hình thành hệ sinh thái logistics, thương mại, dịch vụ và du lịch.
Việt Nam cần doanh nghiệp đầu tàu để nâng sức cạnh tranh nền kinh tế

Việt Nam cần doanh nghiệp đầu tàu để nâng sức cạnh tranh nền kinh tế

Samsung, Huawei, Siemens hay Volkswagen cho thấy sức mạnh doanh nghiệp có thể trở thành sức mạnh quốc gia khi được đặt trong một hệ sinh thái chính sách và công nghiệp phù hợp.
Đà Nẵng có thể mở thêm nguồn thu dài hạn từ vùng dược liệu nghìn ha

Đà Nẵng có thể mở thêm nguồn thu dài hạn từ vùng dược liệu nghìn ha

Sau 8 tháng, Đà Nẵng thu ngân sách 63.816 tỷ đồng, trong đó nhà, đất chiếm gần 39,7%. Cùng lúc, các dự án dược liệu quy mô lớn đang mở ra hướng tạo giá trị mới từ đất thông qua sản xuất và chế biến sâu.
4.619 dự án tồn đọng cần được khơi thông để tạo dư địa tăng trưởng

4.619 dự án tồn đọng cần được khơi thông để tạo dư địa tăng trưởng

4.619 dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài liên quan khoảng 203.660 ha đất và tổng vốn đầu tư hơn 3,9 triệu tỷ đồng đang cho thấy một lượng nguồn lực rất lớn của nền kinh tế chưa được khai thác hiệu quả. Bài toán hiện nay không chỉ là xử lý sai phạm, mà còn phải tháo gỡ đúng pháp luật để đất đai, công trình và vốn đầu tư đủ điều kiện sớm quay trở lại nền kinh tế.
Tây Ninh chuyển lợi thế địa kinh tế thành sức cạnh tranh mới

Tây Ninh chuyển lợi thế địa kinh tế thành sức cạnh tranh mới

Tây Ninh định hướng phát huy lợi thế địa kinh tế, phát triển logistics, thương mại điện tử, chế biến sâu và kiểm soát xuất xứ, qua đó nâng giá trị xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế.
Từ Cái Mép Hạ đến Cần Giờ, trục logistics quốc tế đang thành hình?

Từ Cái Mép Hạ đến Cần Giờ, trục logistics quốc tế đang thành hình?

Sự kết nối Cái Mép - Thị Vải, khu thương mại tự do (FTZ) Cái Mép Hạ, Cần Giờ, Long Thành và các vùng công nghiệp phía Đông đang mở ra một cấu trúc logistics mới cho TP. Hồ Chí Minh.
Hà Nội giữ mục tiêu tăng trưởng 11%, dồn lực cho những tháng cuối năm

Hà Nội giữ mục tiêu tăng trưởng 11%, dồn lực cho những tháng cuối năm

Dù thừa nhận áp lực rất lớn để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng khẳng định thành phố không điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng 11%. Từ nay đến cuối năm, toàn hệ thống được yêu cầu tăng tốc, tập trung vào những lĩnh vực còn nhiều dư địa, đặc biệt là xây dựng và đầu tư.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu phục hồi đồng bộ ba hệ thống sông ô nhiễm

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu phục hồi đồng bộ ba hệ thống sông ô nhiễm

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện dự án phục hồi các nguồn nước suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tại Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê theo lộ trình, xác định rõ công trình ưu tiên, nguồn lực và cơ chế vận hành, bảo đảm đầu tư đến đâu phát huy hiệu quả đến đó.
TP. Hồ Chí Minh giải ngân 85.000 tỷ đồng, thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI

TP. Hồ Chí Minh giải ngân 85.000 tỷ đồng, thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI

8 tháng năm 2026, TP. H Chí Minh giải ngân 85.141 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 57,7% kế hoạch năm, cao hơn bình quân chung cả nước; thu hút hơn 10 tỷ USD FDI, tăng 167,3% so với cùng kỳ.
Gần 2.700 dự án được xử lý để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Gần 2.700 dự án được xử lý để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Khi thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều, yêu cầu xử lý dự án tồn đọng được đặt cùng với giải ngân đầu tư công, tháo gỡ thủ tục và nâng cao trách nhiệm thực thi. Mục tiêu là đưa những nguồn lực đang bị đình trệ trở lại nền kinh tế.
Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành tăng tốc tháo gỡ điểm nghẽn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa nguồn vốn và mở thêm dư địa cho doanh nghiệp trong những tháng cuối năm 2026.
Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong 8 tháng năm 2026. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, giải ngân đầu tư công, xử lý dự án tồn đọng và những tác động từ bên ngoài vẫn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác điều hành trong những tháng cuối năm.
Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế và hình thành 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 80% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ. Ở chiều chi, đầu tư phát triển tiếp tục là điểm nhấn khi tăng 35,4%, góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong khi các nhiệm vụ an sinh, quốc phòng, an ninh và trả nợ được bảo đảm.
Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

8 tháng năm 2026, dòng vốn đầu tư tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực khi vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tăng 18,5%, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua. Đáng chú ý, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tăng tới 55,4%, cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tiếp tục được củng cố.