| Thông tư 154/2026/TT-BTC: Mua gom hàng biên giới, doanh nghiệp đối mặt áp lực chi phí logistics Thông tư 154/2026/TT-BTC: Hàng cư dân biên giới được miễn thuế, khi nào phải khai báo hải quan? |
Chi phí nhập hàng thấp chưa đủ tạo nên lợi thế cạnh tranh nếu doanh nghiệp không kiểm soát được thời gian thông quan, hồ sơ vận chuyển và chứng từ bán hàng. Thông tư 154/2026/TT-BTC sửa đổi cơ chế giám sát hải quan và khai báo hàng hóa biên giới theo hướng gắn dữ liệu với quá trình lưu thông. Đối với doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, yêu cầu đặt ra là tổ chức lại chuỗi cung ứng từ khâu mua gom, tập kết đến giao hàng và xuất hóa đơn, thay vì chỉ xử lý thủ tục khi hàng đã chờ tại cửa khẩu.
Thương mại biên giới không chỉ cạnh tranh bằng giá hàng hóa
Điều 2 Thông tư 154/2026/TT-BTC sửa đổi Điều 5 Thông tư 80/2019/TT-BTC, xác định hàng xuất khẩu, nhập khẩu của thương nhân và hàng nhập khẩu do thương nhân mua gom từ cư dân biên giới chịu kiểm tra, giám sát hải quan từ khi tập kết tại địa điểm thuộc khu vực cửa khẩu đến khi hoàn thành thủ tục và đưa ra khỏi khu vực giám sát.
Việc kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế được thực hiện theo Nghị định 08/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 167/2025/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn liên quan.
Đối với thương nhân nhỏ, chuỗi cung ứng vì thế không kết thúc tại thời điểm thanh toán tiền mua hàng.
Một lô hàng đã được mua nhưng chưa hoàn thành thủ tục vẫn có thể chưa đủ điều kiện vận chuyển vào nội địa.
Khoản 3 Điều 4 được sửa đổi tại Điều 1 Thông tư 154 xác định rõ điều kiện hoàn thành thủ tục hải quan và nghĩa vụ tài chính trước khi bán, vận chuyển hàng mua gom ra khỏi khu vực cửa khẩu hoặc địa điểm tập kết theo trường hợp phải làm thủ tục.
Trong kinh doanh, chậm giao hàng có thể kéo theo chi phí phương tiện, kho bãi và những bất đồng hợp đồng, tùy thỏa thuận giữa các bên.
Với doanh nghiệp có vốn lưu động hạn chế, chi phí phát sinh ngoài dự toán có thể làm giảm lợi nhuận của cả lô hàng.
Do đó, vấn đề cần đặt ra không phải chỉ là tốc độ mua được hàng, mà là tốc độ hoàn thiện chuỗi chứng từ để hàng đủ điều kiện lưu thông.
Thương nhân nên dự kiến thời gian xử lý thủ tục trong hợp đồng vận tải và phân phối, thay vì cam kết tiến độ chỉ dựa trên ngày mua gom.
![]() |
| Thông tư 154/2026/TT-BTC: Đưa hàng biên giới vào nội địa, doanh nghiệp cần lưu ý gì? |
Số hóa hải quan: Cơ hội giảm thời gian hay khoảng cách năng lực giữa doanh nghiệp?
Khoản 2 Điều 6 được sửa đổi tại Điều 3 Thông tư 154 quy định việc khai báo hàng hóa của cư dân biên giới trên hệ thống xử lý dữ liệu điện tử; khi hệ thống gặp sự cố hoặc chưa đáp ứng, có thể thực hiện theo hướng dẫn bằng tờ khai giấy.
Khoản 5 Điều 6 quy định tiếp nhận và xác nhận thông quan trên hệ thống hoặc tờ khai giấy trong trường hợp hệ thống gặp sự cố.
Tại khoản 3, khoản 4 Điều 7 được sửa đổi theo Điều 4 Thông tư 154, kết quả kiểm tra và xác nhận giám sát được cập nhật trên hệ thống hoặc ghi nhận trên chứng từ giấy theo trường hợp áp dụng.
Khoản 5 Điều 7 còn quy định việc Hải quan cửa khẩu mở sổ theo dõi, tiếp nhận tờ khai khi hệ thống xử lý dữ liệu điện tử gặp sự cố.
Về nguyên tắc, cơ chế dữ liệu điện tử có thể góp phần giảm phụ thuộc vào hồ sơ thủ công, tạo thuận lợi cho đối chiếu thông tin và truy xuất giao dịch.
Nhưng lợi ích này không tự động đến với mọi thương nhân.
Doanh nghiệp có nhân sự, phần mềm và quy trình lưu trữ tốt thường thuận lợi hơn trong việc kết nối tờ khai, chứng từ mua gom và dữ liệu bán hàng.
Trong khi đó, thương nhân nhỏ có thể gặp khó khăn nếu phải xử lý nhiều giao dịch nhưng chưa có hệ thống quản lý hồ sơ.
Vì vậy, chính sách số hóa cần đi cùng hướng dẫn dễ tiếp cận, xử lý nhất quán và khả năng duy trì thủ tục khi công nghệ gặp gián đoạn.
Với doanh nghiệp, giải pháp thực tiễn là thiết lập bộ hồ sơ điện tử cho từng lô hàng, kiểm tra thông tin trước khi khai báo và phân công người chịu trách nhiệm đối chiếu chứng từ.
Hóa đơn điện tử: Điểm kết nối giữa quản lý hải quan và cạnh tranh nội địa
Một quy định cần được chú ý nằm tại khoản 5 Điều 4 được sửa đổi theo Điều 1 Thông tư 154.
Trường hợp hàng hóa mua gom đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ liên quan và đáp ứng điều kiện theo quy định, thương nhân không phải làm lại thủ tục hải quan đối với hàng mua gom.
Tuy nhiên, khi hàng được vận chuyển, đưa vào lưu thông trong nội địa, thương nhân vẫn phải lập hóa đơn điện tử theo pháp luật.
Đây là yêu cầu quan trọng trong quản trị chuỗi cung ứng.
Tờ khai và hồ sơ hải quan giúp làm rõ nguồn gốc, quá trình thực hiện nghĩa vụ nhập khẩu; còn hóa đơn điện tử gắn với việc bán hàng, lưu thông hàng hóa theo quy định.
Hai loại chứng từ có chức năng khác nhau, không thể tùy tiện dùng một loại để thay thế toàn bộ nghĩa vụ của loại còn lại.
Nếu thông tin hàng hóa tại cửa khẩu không thống nhất với hồ sơ bán hàng, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn khi đối chiếu, giải trình hoặc xử lý phát sinh với đối tác.
Đáng chú ý, khoản 12 Điều 5 Thông tư 154 thay thế thông tin giấy tờ nhận diện tại Phụ lục VI bằng “Số định danh cá nhân/Số Căn cước công dân”. Các khoản 13, 14 và 15 Điều 5 thay thế Phụ lục I, II, III của Thông tư 80/2019/TT-BTC.
Doanh nghiệp cần cập nhật biểu mẫu và hệ thống quản lý chứng từ trước thời điểm quy định mới có hiệu lực.
Sức cạnh tranh bắt đầu từ một chuỗi hàng hóa có thể kiểm chứng
Thông tư 154/2026/TT-BTC đặt ra yêu cầu kết nối chặt chẽ hơn giữa mua gom, khai báo, giám sát và lưu thông hàng hóa vào nội địa.
Đối với doanh nghiệp nhỏ, ưu tiên là kiểm soát hồ sơ theo từng lô hàng, dự kiến chi phí logistics và phối hợp chứng từ hải quan với hóa đơn điện tử.
Đối với hộ kinh doanh, cần kiểm tra nguồn gốc và điều kiện lưu thông trước khi nhập hàng về phân phối.
Ở góc độ chính sách, số hóa thủ tục chỉ thực sự nâng cao sức cạnh tranh khi góp phần giảm chi phí tuân thủ cho chủ thể kinh doanh hợp pháp.
Một chuỗi cung ứng hiệu quả không chỉ đưa hàng đến thị trường nhanh, mà còn phải bảo đảm hàng hóa có thể truy xuất nguồn gốc, đối chiếu nghĩa vụ và lưu thông trên nền tảng pháp lý minh bạch.
