Ba nhóm dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải được áp dụng những tỷ lệ chi phí khác nhau, trong đó chi phí sản xuất chung của hoạt động khảo sát định kỳ lên tới 43%. Thông tư 76/2026/TT-BXD tạo cơ sở tính giá dịch vụ công từ ngân sách nhà nước, nhưng cũng đặt ra câu hỏi về hiệu quả chi tiêu: định mức được xây dựng như thế nào để vừa bảo đảm hoạt động hàng hải an toàn, vừa tránh biến chi phí quản lý thành gánh nặng ngân sách khó kiểm soát?
Ba nhóm dịch vụ, ba cấu trúc chi phí khác nhau
Theo điểm a, b và c khoản 1 Điều 1 Thông tư 76/2026/TT-BXD, phạm vi điều chỉnh gồm ba nhóm: vận hành, bảo trì đèn biển và đăng tiêu độc lập; vận hành, bảo trì hệ thống báo hiệu trên luồng hàng hải công cộng; khảo sát định kỳ phục vụ công bố thông báo hàng hải.
Nhóm khảo sát bao gồm các hoạt động liên quan đến luồng hàng hải công cộng, vị trí đón trả hoa tiêu, khu chuyển tải, khu neo đậu và khu tránh, trú bão trong vùng nước cảng biển.
Điều 2 ban hành ba loại định mức: chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý và lợi nhuận.
Theo Mục III Phụ lục, định mức chi phí sản xuất chung lần lượt là 18,3%, 15,6% và 43%. Định mức chi phí quản lý tương ứng là 15,1%, 18,6% và 13%.
Sự khác biệt này phản ánh cơ cấu định mức được thiết kế riêng theo từng nhóm dịch vụ, thay vì áp dụng một tỷ lệ đồng loạt.
Tuy nhiên, không thể từ tỷ lệ 43% kết luận hoạt động khảo sát định kỳ tốn kém nhất hoặc kém hiệu quả nhất.
Theo điểm a khoản 1 Mục II Phụ lục, chi phí sản xuất chung được xác định bằng tỷ lệ định mức nhân với chi phí tiền lương của lao động trực tiếp sản xuất trong giá dịch vụ, sau khi loại trừ phần sửa chữa tài sản cố định trực tiếp thuộc trường hợp quy định riêng.
Như vậy, muốn so sánh quy mô chi phí thực tế phải xem xét cả cơ sở tiền lương, khối lượng dịch vụ và cấu trúc chi phí tương ứng.
Vấn đề quản trị đáng quan tâm không chỉ là tỷ lệ cao hay thấp, mà là định mức có được áp dụng đúng công việc, đúng cơ sở tính toán và đúng giá trị dịch vụ được đặt hàng hay không.
![]() |
| Thông tư 76/2026/TT-BXD: Định mức chi phí khảo sát hàng hải 43%, hiệu quả ngân sách được kiểm soát ra sao? |
Chi phí sản xuất chung và chi phí quản lý: Ranh giới phải minh bạch
Mục I Phụ lục Thông tư 76 phân biệt rõ hai nhóm chi phí.
Theo các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Mục I, chi phí sản xuất chung gồm chi phí nhân viên quản lý tại đơn vị trực tiếp sản xuất, vật tư dùng chung, khấu hao tài sản phục vụ hoạt động đơn vị, dịch vụ mua ngoài và một số khoản chi hợp lý, hợp lệ khác.
Trong khi đó, khoản 2 Mục I quy định chi phí quản lý phát sinh tại Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam, gồm chi phí nhân sự quản lý, vật tư, sửa chữa và khấu hao tài sản quản lý, dịch vụ mua ngoài cùng các khoản chi theo quy định.
Ranh giới này rất quan trọng. Nếu một khoản chi không được phân loại rõ theo chức năng và cấp quản lý, việc kiểm chứng cơ cấu giá dịch vụ công có thể trở nên khó khăn.
Đặc biệt, điểm e khoản 1 Mục I quy định riêng chi phí sửa chữa tài sản cố định trực tiếp phục vụ vận hành, bảo trì đèn biển, đăng tiêu và hệ thống báo hiệu luồng hàng hải.
Theo điểm b khoản 1 Mục II, khoản sửa chữa này được xác định theo pháp luật hiện hành, không đơn giản lấy định mức chi phí sản xuất chung để tính thay.
Đây là điểm dễ bị bỏ qua khi đọc bảng tỷ lệ.
Về thực tiễn, đơn vị cung cấp dịch vụ cần theo dõi rõ chi phí quản lý, chi phí sản xuất chung và chi phí sửa chữa trực tiếp. Cơ quan đặt hàng cần đối chiếu các khoản mục với nội dung công việc thực tế, tránh nguy cơ phân loại trùng hoặc tính sai cơ sở giá.
Doanh nghiệp nhỏ được hưởng lợi gì từ định mức minh bạch?
Theo khoản 2 Điều 1, đối tượng áp dụng trực tiếp gồm Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam và các tổ chức, cá nhân, cơ quan có liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ công này.
Doanh nghiệp logistics, vận tải biển, đại lý hàng hải hoặc hộ kinh doanh dịch vụ hậu cần không mặc nhiên phải áp dụng bảng định mức để tính giá bán của mình.
Tuy nhiên, họ có lợi ích kinh tế gắn với chất lượng hoạt động bảo đảm an toàn hàng hải công cộng.
Hệ thống đèn biển, báo hiệu và thông tin khảo sát phục vụ an toàn khai thác luồng hàng hải. Khi hoạt động bảo trì, khảo sát được tổ chức ổn định và hiệu quả, điều kiện vận hành của chuỗi dịch vụ hàng hải có thể được cải thiện.
Đó là tác động gián tiếp có thể kỳ vọng, không phải kết quả tăng năng suất hay giảm cước vận tải đã được Thông tư chứng minh.
Với doanh nghiệp nhỏ cung cấp vật tư, thiết bị hoặc dịch vụ kỹ thuật cho lĩnh vực hàng hải, cần phân biệt cơ hội hợp đồng thương mại với quyền trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ công được đặt hàng. Thông tư 76 không tự tạo ra quyền nhận đặt hàng cho mọi doanh nghiệp.
Minh bạch tỷ lệ chưa đủ, phải minh bạch hiệu quả
Thông tư 76/2026/TT-BXD tạo ra cơ sở xác định chi phí sản xuất chung và chi phí quản lý trong giá ba nhóm dịch vụ công bảo đảm an toàn hàng hải.
Nhưng hiệu quả ngân sách không thể chỉ được đánh giá qua việc áp dụng đúng tỷ lệ.
Điều quan trọng là từng khoản chi phải được xác định đúng tính chất, đúng cơ sở và gắn với chất lượng công việc được thực hiện.
Đối với doanh nghiệp tham gia chuỗi kinh tế biển, lợi ích lâu dài không nằm ở con số định mức, mà ở hệ thống hàng hải công cộng được vận hành tin cậy, an toàn và sử dụng nguồn lực có trách nhiệm.
| Đón đọc kỳ 2: Thông tư 76/2026/TT-BXD: Lợi nhuận 6–7,2% trong dịch vụ công hàng hải, ngân sách được kiểm soát ra sao? |
