| Thông tư 153/2026/TT-BTC: Siết quản lý vốn tài chính vi mô, ngăn ngừa nguy cơ thất thoát Thông tư 153/2026/TT-BTC: Lãi vay quá hạn, nợ khó thu hồi và rủi ro đối với nguồn vốn tài chính vi mô |
Tài chính vi mô có thể tạo ra chênh lệch thu lớn hơn chi, nhưng khoản tiền này không đồng nghĩa với lợi nhuận được tự do phân phối. Thông tư 153/2026/TT-BTC xác lập nguyên tắc sử dụng kết quả tài chính đúng mục tiêu chương trình, đồng thời yêu cầu kiểm soát chi phí, công khai báo cáo và xử lý các trường hợp chuyển tiếp. Câu hỏi đặt ra là liệu cơ chế quản trị có đủ minh bạch để nguồn vốn tiếp tục phục vụ người vay, thay vì bị phân tán sang những mục đích khác?
Chênh lệch thu chi không phải khoản tiền muốn sử dụng thế nào cũng được
Theo khoản 1 Điều 10 Thông tư 153/2026/TT-BTC, chênh lệch thu chi tài chính hằng năm của chương trình, dự án tài chính vi mô được xác định bằng tổng doanh thu trừ tổng chi phí trong năm.
Khoản 2 Điều 10 quy định sau khi bù đắp lỗ lũy kế chưa xử lý, nếu có, và thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, việc quyết định sử dụng chênh lệch thu chi thuộc bộ phận quản lý chương trình, dự án.
Tuy nhiên, giới hạn pháp lý được xác định rõ: khoản chênh lệch không được chia hoặc sử dụng cho các hoạt động không phải là hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô dưới bất kỳ hình thức nào.
Đây là nguyên tắc đáng chú ý nhất của văn bản khi nhìn từ góc độ bảo vệ nguồn lực hỗ trợ sinh kế.
Trong doanh nghiệp kinh doanh thông thường, phân phối lợi nhuận là vấn đề gắn với quyền của chủ sở hữu và các điều kiện pháp luật. Nhưng đối với chương trình tài chính vi mô thuộc phạm vi Thông tư 153, kết quả thu chi không được trở thành nguồn tiền phân chia ngoài mục tiêu chương trình.
Quy định tạo cơ sở hạn chế nguy cơ nguồn lực được hình thành từ hoạt động tài chính vi mô bị chuyển sang mục đích không phù hợp.
Tuy nhiên, không thể suy luận rằng toàn bộ chênh lệch thu chi phải được đưa ngay vào cho vay mới hoặc trực tiếp phân phối cho hộ kinh doanh. Việc sử dụng còn phải đáp ứng yêu cầu hoạt động và các nghĩa vụ pháp lý liên quan.
Vấn đề cần quan tâm là bộ phận quản lý có xác định rõ phương án sử dụng, căn cứ quyết định và khả năng kiểm tra hay không.
![]() |
| Thông tư 153/2026/TT-BTC: Không được chia chênh lệch thu chi tài chính vi mô, nguồn vốn được bảo vệ ra sao? |
Chi phí thiếu minh bạch có thể làm biến dạng kết quả tài chính
Điều 7 Thông tư 153 quy định các nhóm chi phí của chương trình, từ chi phí lãi, dịch vụ, nhân sự, quản lý, đào tạo, công nghệ thông tin, tài sản đến dự phòng và các khoản chi khác.
Nhưng việc một loại chi phí được liệt kê không có nghĩa mọi khoản thanh toán mang tên đó đều đủ điều kiện ghi nhận.
Theo khoản 2 Điều 8, chi phí phải thực tế phát sinh trong kỳ, liên quan đến hoạt động và có đầy đủ hồ sơ, hóa đơn, chứng từ hợp pháp, hợp lệ.
Đặc biệt, khoản chi đã được tài trợ, viện trợ, ủy thác hoặc nguồn kinh phí khác đài thọ không được ghi nhận trùng vào chi phí chương trình.
Khoản 3 Điều 8 tiếp tục yêu cầu tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí, không hạch toán các khoản đã được nguồn kinh phí khác chi trả.
Đây là cơ chế quan trọng trong bối cảnh một chương trình có thể đồng thời tiếp nhận nhiều nguồn tài trợ.
Chẳng hạn, nếu một hoạt động đào tạo đã được nguồn tài trợ thanh toán toàn bộ, việc tiếp tục ghi nhận chính khoản chi đó vào chi phí của chương trình mà không có căn cứ sẽ làm sai lệch kết quả tài chính.
Rủi ro không chỉ nằm ở việc hạch toán trùng, mà còn ở khả năng đánh giá sai quy mô nguồn lực còn lại để phục vụ hoạt động.
Khoản 1 Điều 8 và Điều 9 đồng thời xác định việc tính chi phí khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp và thực hiện nghĩa vụ thuế, phí, lệ phí phải theo pháp luật tương ứng.
Vì vậy, khoản chi hợp lệ về mục đích hoạt động chưa đương nhiên là khoản chi được trừ khi tính thuế.
Minh bạch báo cáo và chuyển tiếp: Điều kiện duy trì niềm tin vào chương trình
Theo điểm b khoản 2 Điều 11 Thông tư 153, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ có chương trình, dự án tài chính vi mô phải thực hiện chế độ báo cáo theo Điều 18 Nghị định 175/2026/NĐ-CP và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của báo cáo.
Điểm b và điểm c khoản 3 Điều 11 yêu cầu bộ phận quản lý công khai báo cáo tài chính theo pháp luật, đồng thời chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời và chính xác của số liệu.
Minh bạch báo cáo có ý nghĩa vượt ra ngoài yêu cầu hành chính. Đó là cơ sở để đánh giá nguồn vốn được sử dụng ra sao, chất lượng tài chính của chương trình như thế nào và liệu nguồn lực có tiếp tục đáp ứng mục tiêu hỗ trợ khách hàng hay không.
Đáng chú ý, khoản 1 Điều 13 quy định Thông tư 153 có hiệu lực từ ngày 01/12/2026; khoản 2 Điều 13 xác định Thông tư 37/2019/TT-BTC hết hiệu lực từ thời điểm này.
Tuy nhiên, Điều 12 có các quy định chuyển tiếp cụ thể.
Theo khoản 1 Điều 12, chương trình có thời hạn triển khai còn lại dưới 12 tháng kể từ thời điểm Nghị định 175/2026/NĐ-CP có hiệu lực và không đề nghị gia hạn hoạt động được tiếp tục thực hiện chế độ tài chính theo Thông tư 37/2019/TT-BTC đến khi kết thúc thời hạn ghi trên giấy chứng nhận đăng ký.
Khoản 2 Điều 12 cho phép tiếp tục ghi nhận chi phí trả lãi tiền gửi tiết kiệm tự nguyện theo Thông tư 37/2019/TT-BTC đối với hợp đồng, thỏa thuận thuộc khoản 9 Điều 23 Nghị định 175/2026/NĐ-CP đến hết thời hạn.
Vì vậy, đơn vị quản lý phải phân loại đúng chương trình và hợp đồng trước khi chuyển đổi chế độ tài chính, tránh áp dụng máy móc cùng một phương án cho mọi trường hợp.
Giữ vốn đúng mục tiêu mới tạo ra cơ hội tiếp cận vốn bền vững
Thông tư 153/2026/TT-BTC đặt ra giới hạn rõ ràng đối với việc sử dụng chênh lệch thu chi, đồng thời yêu cầu kiểm soát chi phí và minh bạch báo cáo.
Đối với tổ chức quản lý, cần rà soát quy chế sử dụng kết quả tài chính, đối chiếu nguồn tài trợ với các khoản chi và xác định chính xác điều kiện chuyển tiếp.
Đối với hộ kinh doanh, giá trị của chính sách không nằm ở quyền được phân chia chênh lệch thu chi, mà ở khả năng duy trì một chương trình tài chính minh bạch, có năng lực tiếp tục cung cấp vốn phù hợp.
Muốn tài chính vi mô trở thành điểm tựa lâu dài cho kinh tế hộ, điều quan trọng không chỉ là mở rộng dòng vốn đầu vào, mà còn phải bảo vệ được nguồn lực trong suốt quá trình sử dụng và thu hồi.
