Một cuộc kiểm tra chuyên ngành có thể không làm phát sinh khoản phí trực tiếp, nhưng vẫn khiến doanh nghiệp mất nhiều ngày chuẩn bị hồ sơ, bố trí nhân sự và điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Thông tư 73/2026/TT-BXD phân định thẩm quyền kiểm tra trong lĩnh vực quản lý của Bộ Xây dựng, đồng thời yêu cầu rà soát để tránh chồng chéo với hoạt động thanh tra, kiểm toán và các cuộc kiểm tra khác. Câu hỏi đáng quan tâm là phân cấp có thực sự giảm chi phí tuân thủ hay chỉ thay đổi đầu mối ra quyết định?
Phân cấp thẩm quyền chưa đồng nghĩa giảm số cuộc kiểm tra
Khoản 1 Điều 3 Thông tư 73/2026/TT-BXD giao Cục trưởng các Cục thuộc Bộ Xây dựng thực hiện kiểm tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý được xác định theo quyết định của Bộ trưởng, trừ những trường hợp thuộc thẩm quyền Bộ trưởng.
Khoản 2 Điều 3 quy định đối với lĩnh vực còn lại, Vụ trưởng Vụ được giao chức năng tham mưu chủ trì, phối hợp đề xuất Bộ trưởng tiến hành kiểm tra.
Đáng chú ý, khoản 3 Điều 3 xác định ba nhóm trường hợp Bộ trưởng trực tiếp quyết định: nội dung thuộc phạm vi quản lý của từ hai Cục trở lên; đối tượng là Bộ, ngành hoặc UBND cấp tỉnh; cuộc kiểm tra phức tạp, nhạy cảm, phạm vi rộng hoặc liên quan nhiều cơ quan, địa phương.
Phân định thẩm quyền giúp xác định cơ quan chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp hoạt động ở nhiều khâu của chuỗi xây dựng, hạ tầng hoặc vận hành công trình, câu hỏi thực tế vẫn là: một nội dung đã được kiểm tra có tiếp tục bị yêu cầu giải trình bởi đầu mối khác hay không?
Thông tư không đặt ra cơ chế miễn kiểm tra lần sau cho mọi doanh nghiệp từng được kiểm tra. Bởi vậy, hiệu quả phân cấp không nên chỉ được đánh giá qua số quyết định ban hành đúng thẩm quyền, mà còn qua mức độ phối hợp giữa các đơn vị.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu sức ép rõ hơn: một cán bộ kỹ thuật có thể đồng thời phụ trách hồ sơ chất lượng, vận hành và giải trình với cơ quan quản lý. Mỗi lần tập hợp lại cùng một bộ tài liệu đều tiêu tốn thời gian có thể dành cho hoạt động kinh doanh.
|
Chống chồng chéo: Nghĩa vụ của cơ quan kiểm tra, không phải lời hứa chung chung
Điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư 73 yêu cầu cơ quan, đơn vị chủ trì phải rà soát, xử lý để tránh chồng chéo, trùng lặp với thanh tra, kiểm toán nhà nước và những hoạt động kiểm tra khác trước khi ban hành quyết định.
Điểm a cùng khoản yêu cầu xác định rõ thẩm quyền, căn cứ pháp lý, đối tượng, nội dung, phạm vi, thời kỳ và thời hạn kiểm tra. Điểm c đặt ra yêu cầu lựa chọn nhân sự có chuyên môn phù hợp.
Những quy định này đáng chú ý ở chỗ việc phòng ngừa chồng chéo phải bắt đầu từ cơ quan ra quyết định, không thể chờ doanh nghiệp phản ánh sau khi các đoàn đã triển khai.
Một doanh nghiệp đã cung cấp hồ sơ chất lượng của cùng công trình, cùng giai đoạn cho cuộc kiểm tra trước đó có cơ sở đặt vấn đề nếu tiếp tục nhận yêu cầu tương tự. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần xác định nội dung và căn cứ pháp lý cụ thể; không thể mặc nhiên từ chối cuộc kiểm tra mới chỉ vì từng có hoạt động thanh tra hoặc kiểm tra.
Vấn đề chính sách là chất lượng phối hợp giữa các đầu mối. Nếu mỗi cơ quan chỉ rà soát trong phạm vi dữ liệu của mình, nguy cơ trùng lặp vẫn có thể tồn tại dù quy trình trên giấy đã đầy đủ.
Đối với doanh nghiệp, nên thiết lập một sổ theo dõi kiểm tra, ghi rõ cơ quan, quyết định, nội dung, thời kỳ và kết quả. Đây là bằng chứng quản trị hữu ích khi cần đề nghị làm rõ phạm vi cuộc kiểm tra tiếp theo.
Kế hoạch hằng năm: Doanh nghiệp có được dự báo rủi ro tuân thủ?
Theo điểm b khoản 3 Điều 4, chậm nhất ngày 15/11 hằng năm, các Cục, Vụ đề xuất kế hoạch kiểm tra chuyên đề của năm sau gửi Văn phòng Bộ. Điểm c quy định thời hạn tổng hợp, trình Bộ trưởng phê duyệt kế hoạch chậm nhất ngày 25/12.
Điểm đ khoản 3 Điều 4 giao Cục trưởng phê duyệt kế hoạch trong phạm vi được phân cấp. Điểm d cho phép điều chỉnh, bổ sung khi phát sinh yêu cầu quản lý.
Cơ chế lập kế hoạch tạo điều kiện chủ động cho cơ quan nhà nước. Nhưng các mốc 15/11 và 25/12 là thời hạn của cơ quan quản lý, không phải nghĩa vụ nộp hồ sơ của doanh nghiệp.
Kế hoạch cũng không đồng nghĩa mọi cuộc kiểm tra đều được thông báo cố định từ đầu năm. Theo khoản 3 Điều 5, quyết định kiểm tra được gửi trước khi tiến hành, trừ trường hợp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.
Do đó, doanh nghiệp không nên chỉ chuẩn bị hồ sơ khi biết kế hoạch kiểm tra. Việc quản lý thường xuyên hồ sơ pháp lý, kỹ thuật và lịch sử kiểm tra là phương án ít rủi ro hơn.
Đặc biệt, hộ kinh doanh chỉ chịu tác động khi hoạt động thuộc phạm vi kiểm tra chuyên ngành tương ứng; Thông tư không đặt mọi hộ kinh doanh vào một diện kiểm tra chung.
Giảm chồng chéo phải trở thành kết quả có thể kiểm chứng
Thông tư 73/2026/TT-BXD tạo cơ sở phân định thẩm quyền và đặt trách nhiệm rà soát trùng lặp lên cơ quan chủ trì.
Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ thực sự hưởng lợi nếu số lần yêu cầu hồ sơ giống nhau, thời gian giải trình và mức độ gián đoạn hoạt động được hạn chế trên thực tế.
Đối với doanh nghiệp nhỏ, cần lưu trữ lịch sử kiểm tra và chủ động đối chiếu phạm vi từng quyết định. Đối với cơ quan quản lý, phân cấp phải đi cùng phối hợp dữ liệu và trách nhiệm tránh chồng chéo.
Cải cách kiểm tra chuyên ngành không chỉ là kiểm tra đúng cơ quan, mà còn phải kiểm tra đúng việc, đúng thời kỳ và sử dụng hợp lý nguồn lực của cả Nhà nước lẫn doanh nghiệp.
| Đón đọc kỳ 2: Thông tư 73/2026/TT-BXD: Kiểm tra trực tuyến, doanh nghiệp phải cung cấp những hồ sơ nào? |
