Hạ tầng khu công nghiệp, công trình đô thị, hệ thống bảo vệ môi trường hay cảng cá không chỉ là những tài sản phục vụ phát triển kinh tế mà còn đại diện cho nguồn lực đầu tư lớn của Nhà nước. Thông tư 151/2026/TT-BTC đặt ra yêu cầu xác định nguyên giá, theo dõi hao mòn và ghi nhận giá trị tài sản kết cấu hạ tầng. Đằng sau những quy định kế toán là vấn đề đáng quan tâm: Làm thế nào để quản lý đúng giá trị tài sản công, hạn chế thất thoát và tạo nền tảng minh bạch cho hoạt động khai thác kinh doanh?
Từ tài sản hiện hữu đến nguồn lực kinh tế phải được ghi nhận đầy đủ
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 151/2026/TT-BTC, tài sản kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi điều chỉnh gồm nhiều lĩnh vực: hạ tầng cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, công nghệ cao, thương mại, thông tin và truyền thông, đô thị, bảo vệ môi trường, đê điều, cảng cá, du lịch, văn hóa và thể thao.
Phạm vi này cho thấy chính sách không giới hạn ở những công trình phục vụ hoạt động hành chính, mà liên quan đến nhiều loại hạ tầng có khả năng hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đáng chú ý, điểm c khoản 3 Điều 2 xác định doanh nghiệp được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng theo hình thức không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là một trong những đối tượng áp dụng.
Đây là ranh giới pháp lý quan trọng. Doanh nghiệp được giao quản lý hạ tầng công không thể mặc nhiên coi giá trị tài sản được giao là vốn chủ sở hữu của mình.
Theo khoản 2 Điều 4, tài sản kết cấu hạ tầng được xác định là tài sản cố định khi đồng thời đáp ứng hai tiêu chuẩn: thời gian sử dụng để tính hao mòn, trích khấu hao từ một năm trở lên và nguyên giá từ 30 triệu đồng trở lên.
Khoản 1 Điều 4 còn phân biệt tài sản độc lập, hệ thống tài sản liên kết và từng bộ phận có thể hoạt động độc lập. Trường hợp một hệ thống được giao cho nhiều đối tượng quản lý, phần tài sản giao cho từng đối tượng được xác định là một tài sản.
Nhìn từ góc độ quản trị, việc xác định đúng đối tượng ghi sổ không chỉ phục vụ kế toán, mà còn giúp làm rõ trách nhiệm bảo quản, duy tu và theo dõi giá trị tài sản.
Với doanh nghiệp tham gia quản lý hạ tầng khu công nghiệp hoặc công trình dịch vụ công, một sai lệch về phạm vi tài sản được giao có thể kéo theo bất đồng về nghĩa vụ bảo trì, trách nhiệm bàn giao và giá trị đầu tư bổ sung.
![]() |
| Thông tư 151/2026/TT-BTC: Định giá hạ tầng công, doanh nghiệp cần lưu ý những rủi ro gì? |
Công trình đã sử dụng nhưng chưa quyết toán: Không thể để tài sản nằm ngoài sổ sách
Một quy định đáng chú ý nằm tại điểm a khoản 2 Điều 6 Thông tư 151.
Đối với tài sản kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng mới, đã nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng chưa có quyết toán được phê duyệt, đối tượng quản lý vẫn phải ghi sổ kế toán kể từ ngày bàn giao đưa tài sản vào sử dụng.
Nguyên giá được ghi nhận theo giá trị tạm tính, với thứ tự ưu tiên gồm giá trị thẩm tra quyết toán, giá trị đề nghị phê duyệt quyết toán, quyết toán hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu, dự toán dự án hoặc tổng mức đầu tư được phê duyệt.
Khi quyết toán chính thức được phê duyệt, nguyên giá phải được điều chỉnh tương ứng.
Quy định này có ý nghĩa đáng kể đối với những dự án hạ tầng đã vận hành nhưng hồ sơ quyết toán chưa hoàn tất.
Về nguyên tắc quản trị tài sản, một công trình đã phục vụ hoạt động kinh tế cần được nhận diện và theo dõi, thay vì để tình trạng chưa quyết toán trở thành lý do trì hoãn ghi nhận tài sản.
Tuy nhiên, nguyên giá tạm tính không phải giá trị quyết toán cuối cùng và cũng không mặc nhiên là căn cứ xác định giá cho thuê hoặc giá khởi điểm khai thác.
Điểm d khoản 1 Điều 1 Thông tư 151 loại trừ việc xác định giá trị tài sản làm giá khởi điểm để khai thác theo các phương thức được viện dẫn tại Điều 16, Điều 42 Nghị định 178/2026/NĐ-CP hoặc khi xử lý tài sản theo hình thức bán.
Đây là giới hạn cần đặc biệt lưu ý để tránh đánh đồng giá trị kế toán với giá trị giao dịch.
Định giá thiếu căn cứ: Rủi ro có thể phát sinh từ hồ sơ và phương pháp xác định
Khoản 3 Điều 6 Thông tư 151 quy định nhiều phương pháp xác định nguyên giá khi tiếp nhận tài sản được giao, điều chuyển hoặc chuyển giao, tùy thuộc tình trạng hồ sơ.
Đối với tài sản thiếu dữ liệu, điểm a4 khoản 3 Điều 6 cho phép sử dụng nguyên giá tài sản tương đương đang được ghi sổ hoặc thuê doanh nghiệp thẩm định giá, thành lập Hội đồng để đánh giá lại theo điều kiện quy định.
Khoản 9 và khoản 10 Điều 5 tiếp tục đặt ra yêu cầu đối với việc sử dụng kết quả thẩm định giá và tổ chức Hội đồng xác định giá trị tài sản.
Đáng chú ý, Hội đồng phải hoạt động theo nguyên tắc tập thể, có hồ sơ khảo sát, kết quả biểu quyết và biên bản phản ánh quá trình xác định giá trị.
Những yêu cầu này góp phần tạo cơ sở kiểm tra trách nhiệm, nhất là đối với tài sản có giá trị lớn hoặc lịch sử đầu tư phức tạp.
Đối với doanh nghiệp nhỏ cung cấp dịch vụ thẩm định giá, tư vấn kỹ thuật, kiểm kê hoặc số hóa hồ sơ, đây có thể là nhu cầu dịch vụ chuyên môn phát sinh trong quá trình triển khai chính sách. Tuy nhiên, cơ hội kinh doanh không đồng nghĩa với quyền đương nhiên được lựa chọn cung cấp dịch vụ.
Minh bạch giá trị tài sản là điều kiện để khai thác hiệu quả
Thông tư 151/2026/TT-BTC đặt trọng tâm vào việc nhận diện đúng tài sản, xác định nguyên giá có căn cứ và bảo đảm giá trị được phản ánh trên sổ kế toán.
Đối với doanh nghiệp được giao quản lý hạ tầng công, yêu cầu quan trọng là rà soát hồ sơ bàn giao, xác định đúng phạm vi tài sản, nguồn gốc hình thành và tình trạng ghi sổ.
Đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh sử dụng dịch vụ hạ tầng, lợi ích có thể đến từ một hệ thống quản lý minh bạch hơn, nhưng không thể mặc nhiên kết luận chi phí thuê hoặc sử dụng hạ tầng sẽ giảm.
Một tài sản công chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi giá trị được ghi nhận đúng, trách nhiệm quản lý được xác định rõ và hoạt động khai thác được đặt trên nền tảng pháp lý minh bạch.
| Đón đọc kỳ 2: Thông tư 151/2026/TT-BTC: Hao mòn, khấu hao hạ tầng công và những rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý |
