| Thông tư 151/2026/TT-BTC: Định giá hạ tầng công, doanh nghiệp cần lưu ý những rủi ro gì? |
Khi tài sản kết cấu hạ tầng được giao cho nhiều chủ thể quản lý, khai thác, tính minh bạch không chỉ phụ thuộc vào việc xác định nguyên giá hay mức hao mòn. Chất lượng dữ liệu, hồ sơ bàn giao và trách nhiệm báo cáo mới là những yếu tố quyết định khả năng kiểm soát nguồn lực công. Thông tư 151/2026/TT-BTC đặt ra yêu cầu thống nhất sổ kế toán với cơ sở dữ liệu tài sản, đồng thời xử lý những vướng mắc chuyển tiếp đối với hạ tầng đã tồn tại nhiều năm.
Sổ kế toán và cơ sở dữ liệu: Một tài sản không thể tồn tại với hai giá trị thiếu thống nhất
Theo khoản 11 Điều 5 Thông tư 151/2026/TT-BTC, các đối tượng thuộc phạm vi quy định phải thực hiện kế toán toàn bộ tài sản kết cấu hạ tầng được giao quản lý, báo cáo tình hình tăng, giảm, hao mòn, khấu hao và bảo đảm số liệu trên sổ kế toán thống nhất với thông tin trong Cơ sở dữ liệu về tài sản kết cấu hạ tầng.
Điểm b khoản 11 Điều 5 tiếp tục quy định trách nhiệm kiểm kê tài sản định kỳ hằng năm, tổng kiểm kê theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền và điều chỉnh số liệu kế toán nếu phát sinh chênh lệch.
Đáng chú ý, điểm c khoản 11 Điều 5 yêu cầu thực hiện kê khai, báo cáo tình hình quản lý, sử dụng, khai thác tài sản theo Điều 33, Điều 46 Nghị định 178/2026/NĐ-CP và Thông tư 151.
Đây không đơn thuần là nghĩa vụ lập báo cáo.
Trong thực tiễn quản trị, một tài sản có thể đã được đưa vào sử dụng nhưng hồ sơ đầu tư, quyết toán, bàn giao và kế toán lại được lưu giữ tại nhiều đơn vị khác nhau.
Nếu dữ liệu không thống nhất, quá trình xác định trách nhiệm bảo trì, xử lý tài sản hoặc đánh giá hiệu quả khai thác có thể gặp khó khăn.
Đối với doanh nghiệp được giao quản lý hạ tầng công, cần coi việc chuẩn hóa dữ liệu tài sản là nhiệm vụ quản trị nội bộ, thay vì chỉ giao cho bộ phận kế toán thực hiện khi đến kỳ báo cáo.
Với doanh nghiệp nhỏ cung cấp dịch vụ kiểm kê, số hóa hồ sơ, phần mềm quản lý tài sản hoặc tư vấn kỹ thuật, yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu có thể mở ra nhu cầu dịch vụ. Dẫu vậy, quy định không mặc nhiên tạo ra quyền tham gia cung cấp dịch vụ nếu chưa đáp ứng điều kiện lựa chọn và hợp đồng.
![]() |
| Thông tư 151/2026/TT-BTC: Siết trách nhiệm kê khai tài sản công, doanh nghiệp cần lưu ý gì? |
Kê khai đầy đủ chưa đủ, vấn đề là khả năng truy xuất và kiểm chứng
Điều 13 Thông tư 151 quy định mẫu báo cáo kê khai lần đầu và báo cáo bổ sung, tăng, giảm tài sản kết cấu hạ tầng.
Theo khoản 1 Điều 13, kê khai lần đầu thực hiện theo Mẫu số 01A tại Phụ lục II; khoản 2 Điều 13 quy định Mẫu số 01B và 01C đối với kê khai bổ sung, tăng, giảm tài sản.
Điều 14 tiếp tục quy định Mẫu số 01D về tình hình khai thác tài sản theo từng phương thức; Mẫu số 02A về tổng hợp quản lý, sử dụng tài sản và Mẫu số 02B về tổng hợp tình hình khai thác.
Việc thiết lập hệ thống biểu mẫu thống nhất góp phần tạo cơ sở tổng hợp, so sánh và kiểm tra dữ liệu giữa các đối tượng quản lý.
Tuy nhiên, biểu mẫu chỉ phát huy hiệu quả khi thông tin đầu vào có căn cứ.
Đối với doanh nghiệp được giao quản lý hạ tầng, những tài liệu như quyết định giao tài sản, biên bản bàn giao, hồ sơ quyết toán, tài liệu kỹ thuật và hồ sơ nâng cấp, sửa chữa cần được liên kết với từng đối tượng ghi sổ.
Khoản 2 Điều 5 xác định mỗi tài sản kết cấu hạ tầng theo Điều 4 là một đối tượng ghi sổ kế toán. Đây là cơ sở để tổ chức hồ sơ theo từng tài sản thay vì quản lý dữ liệu phân tán theo dự án hoặc đơn vị thực hiện.
Về phía cơ quan quản lý, vấn đề quan trọng là bảo đảm khả năng đối chiếu giữa báo cáo và tài sản thực tế, tránh tình trạng dữ liệu đầy đủ về hình thức nhưng thiếu giá trị phục vụ quyết định quản lý.
Tài sản cũ, cơ chế mới: Thách thức lớn nằm ở giai đoạn chuyển tiếp
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của Thông tư 151 nằm tại Điều 15 về chuyển tiếp.
Theo khoản 1 Điều 15, tài sản hiện có trước ngày Nghị định 178/2026/NĐ-CP có hiệu lực, đã xác định nguyên giá và giá trị còn lại để ghi sổ kế toán, được tiếp tục sử dụng các giá trị đã xác định.
Khoản 2 Điều 15 quy định tài sản chưa xác định nguyên giá, giá trị còn lại thì thực hiện theo Thông tư 151.
Đặc biệt, khoản 3 Điều 15 yêu cầu đối với tài sản chưa được tính hao mòn, trích khấu hao theo quy định, đối tượng quản lý phải tính hao mòn cho toàn bộ các năm đã sử dụng đến hết năm tài chính 2025 theo tỷ lệ tại Thông tư, đồng thời xử lý trong số liệu hao mòn, khấu hao năm tài chính 2026 theo quy định.
Đây là vấn đề doanh nghiệp được giao quản lý tài sản cần đặc biệt quan tâm.
Đối với những công trình có thời gian sử dụng dài nhưng hồ sơ chưa đầy đủ, việc xác định thời điểm đưa vào sử dụng, nguyên giá và số hao mòn lũy kế có thể đòi hỏi quá trình rà soát kỹ thuật, kế toán và pháp lý.
Tuy nhiên, quy định chuyển tiếp không đồng nghĩa mọi tài sản hiện hữu đều phải định giá lại từ đầu. Việc xử lý phụ thuộc tình trạng ghi sổ và căn cứ pháp lý của từng tài sản.
Khoản 5 Điều 15 cũng xác định tài sản đã được theo dõi trên sổ kế toán trước ngày Thông tư có hiệu lực thì việc quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao kể từ thời điểm có hiệu lực thực hiện theo Thông tư này.
Đối với doanh nghiệp, điều cần làm trước ngày 24/11/2026 là phân loại tài sản theo tình trạng hồ sơ, đối chiếu dữ liệu kế toán và chủ động xây dựng phương án xử lý những tài sản chưa đủ căn cứ xác định giá trị.
Thông tư 151/2026/TT-BTC cho thấy yêu cầu quản lý tài sản kết cấu hạ tầng không chỉ nằm ở xác định giá trị mà còn ở khả năng theo dõi xuyên suốt vòng đời tài sản.
Đối với doanh nghiệp được giao quản lý hạ tầng công, việc kiểm kê, chuẩn hóa hồ sơ, đối chiếu dữ liệu và xác định trách nhiệm báo cáo cần được thực hiện có hệ thống.
Đối với doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh sử dụng dịch vụ hạ tầng, tác động chủ yếu mang tính gián tiếp thông qua chất lượng quản lý, khai thác công trình và cơ chế cung cấp dịch vụ.
Một hệ thống tài sản công minh bạch không thể chỉ dựa vào những con số trên báo cáo. Điều quan trọng là mỗi giá trị được ghi nhận phải có căn cứ, mỗi tài sản có chủ thể chịu trách nhiệm và mọi hoạt động khai thác đều có thể được kiểm tra, đánh giá.
Đó cũng là điều kiện để tài sản kết cấu hạ tầng thực sự phát huy vai trò phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả đầu tư công và tạo môi trường kinh doanh ổn định, bền vững.
