Một trụ sở bỏ trống, một khu đất chưa được khai thác hay một công trình đã bàn giao nhưng thiếu hồ sơ quản lý đều có thể trở thành nguồn lực bị lãng phí. Khi ngân sách phải dành nguồn lực cho đầu tư hạ tầng và các dịch vụ công, việc để tài sản nhà nước nằm im hoặc sử dụng không đúng công năng càng đặt ra yêu cầu phải chấn chỉnh.
Kết quả tổng kiểm kê tài sản công vừa được Bộ Tài chính công khai cho thấy, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô tài sản mà còn ở chất lượng quản lý, khả năng khai thác và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị được giao sử dụng.
Quy mô tài sản lớn, khoảng trống quản lý còn hiện hữu
Theo kết quả tổng kiểm kê tài sản công tại thời điểm 0 giờ ngày 1/1/2026, được Bộ Tài chính công khai ngày 31/10/2026, cả nước có 83.982 đối tượng kiểm kê, thực hiện kiểm kê 20 loại tài sản công đang quản lý hoặc tạm quản lý.
![]() |
| Nhiều tài sản công còn sử dụng được nhưng bỏ không, sử dụng sai mục đích; hồ sơ, sổ sách chưa phản ánh đầy đủ thực trạng - Ảnh minh họa. |
Tổng giá trị tài sản đã được hạch toán nguyên giá hoặc xác định nguyên giá qua kiểm kê đạt 12.878.423,25 tỷ đồng, tương đương hơn 12,87 triệu tỷ đồng.
Đây là số liệu nguyên giá thuộc phạm vi kiểm kê, không phải giá trị thị trường của toàn bộ tài sản công. Kết quả này cũng không bao gồm một số nhóm tài sản đặc thù, tài sản thuộc danh mục bí mật nhà nước, tài sản đang đầu tư xây dựng hoặc tài sản đã được giao doanh nghiệp và tính vào vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Đáng chú ý, tài sản tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị đạt hơn 7,88 triệu tỷ đồng, chiếm 61,239% tổng giá trị được kiểm kê. Trong nhóm này, trụ sở làm việc và cơ sở hoạt động sự nghiệp, gồm đất, nhà và vật kiến trúc, chiếm tới 90,59%.
Ở nhóm tài sản kết cấu hạ tầng, đường bộ có nguyên giá gần 3,79 triệu tỷ đồng, chiếm 77,26% tổng giá trị tài sản hạ tầng thuộc phạm vi kiểm kê. Đặc biệt, khối địa phương quản lý tới 88,47% tổng giá trị tài sản kết cấu hạ tầng được thống kê.
Cơ cấu này cho thấy nhà, đất công và hạ tầng do Nhà nước đầu tư là những nguồn lực có quy mô lớn, gắn trực tiếp với chất lượng cung cấp dịch vụ công và khả năng phát triển của từng địa phương.
Tuy nhiên, quá trình kiểm kê cũng phát hiện nhiều bất cập. Một số đơn vị kê khai diện tích đất, nhà chưa chính xác, thiếu chỉ tiêu diện tích, hạch toán không thống nhất giữa số lượng tài sản thực tế và sổ kế toán. Có tài sản chưa được theo dõi đầy đủ, chưa xác định giá trị hoặc hồ sơ pháp lý chưa hoàn thiện.
Đáng lưu ý, tình trạng tài sản còn khả năng sử dụng nhưng không được đưa vào sử dụng, tài sản sử dụng sai mục đích và tài sản hư hỏng vẫn xuất hiện tại nhiều cơ quan, đơn vị.
Những hạn chế này cho thấy tổng kiểm kê mới là bước nhận diện và xác lập dữ liệu. Giá trị thực tế của công việc phải được thể hiện ở khả năng khắc phục sai lệch, bố trí lại tài sản và đưa nguồn lực công vào khai thác đúng mục đích.
Không để tài sản dôi dư tiếp tục nằm chờ thủ tục
Một trong những nguyên nhân khiến việc quản lý tài sản gặp khó khăn là quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính đã làm thay đổi đầu mối quản lý, sử dụng. Tài sản chuyển giao giữa các cơ quan, đơn vị nhưng hồ sơ, sổ sách và trách nhiệm tiếp nhận chưa phải lúc nào cũng được cập nhật đồng bộ.
![]() |
| Chính phủ ban hành Nghị quyết 31/2026/NQ-CP ngày 24/6/2026 về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính. |
Với những công trình hình thành qua nhiều giai đoạn đầu tư, sử dụng nhiều nguồn vốn, việc thiếu hồ sơ ban đầu còn gây khó khăn cho xác định nguyên giá, thời gian sử dụng và tình trạng pháp lý. Một số đơn vị cũng chưa thực hiện đầy đủ việc bàn giao tài sản sau khi kết thúc dự án hoặc hoàn thành mua sắm.
Hệ quả là tài sản có thể đã được đưa vào sử dụng trên thực tế nhưng chưa được ghi nhận đầy đủ trên sổ sách của đơn vị tiếp nhận. Khi thiếu căn cứ pháp lý và dữ liệu thống nhất, việc điều chuyển, sửa chữa, khai thác hoặc xử lý tài sản đều có nguy cơ kéo dài.
Để khắc phục, Bộ Tài chính yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương rà soát, chuẩn hóa thông tin, củng cố hồ sơ quản lý và bảo đảm số liệu thực tế thống nhất với sổ kế toán. Tài sản chưa xác định giá trị phải được xác định theo quy định để phục vụ quản lý, hạch toán.
Đối với tài sản hình thành từ các dự án đầu tư, ban quản lý dự án và đơn vị liên quan phải thực hiện bàn giao, tiếp nhận, xử lý ngay sau khi kết thúc dự án hoặc khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Cùng với đó là yêu cầu xử lý dứt điểm tài sản hư hỏng, không còn khả năng sử dụng; tài sản còn sử dụng được nhưng bỏ không và tài sản sử dụng sai mục đích.
Đặc biệt, đối với nhà, đất dôi dư sau sắp xếp bộ máy, Chính phủ đã có chỉ đạo trực tiếp nhằm rút ngắn quá trình xử lý.
Theo Công điện số 68/CĐ-TTg ngày 7/10/2026, do Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan Trung ương và chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chịu trách nhiệm về tiến độ và kết quả sắp xếp, xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư thuộc phạm vi quản lý.
Công điện nhấn mạnh yêu cầu xử lý ngay các cơ sở nhà, đất không sử dụng quá 12 tháng đã được Cơ quan Thanh tra chỉ ra. Các cơ quan không được đặt thêm điều kiện, thủ tục xin ý kiến lòng vòng làm cản trở việc khai thác, xử lý tài sản.
Đáng chú ý, đối với cơ sở nhà, đất chưa có đầy đủ giấy tờ pháp lý hoặc chưa xác định hoàn chỉnh ranh giới thực địa, cơ quan tiếp nhận vẫn phải ghi nhận cụ thể hiện trạng, ranh giới và hồ sơ tại thời điểm bàn giao. Không được lấy lý do thiếu hồ sơ để trì hoãn việc tiếp nhận tài sản.
Cách tiếp cận này nhằm tháo gỡ một điểm nghẽn đáng kể: tài sản đã có quyết định chuyển giao nhưng quá trình tiếp nhận, hoàn thiện hồ sơ và xây dựng phương án khai thác bị kéo dài.
Hiệu quả sử dụng phải là thước đo trách nhiệm
Từ góc độ quản lý nguồn lực, việc xử lý tài sản công không nên dừng ở hoàn thành kiểm kê, cập nhật phần mềm hay ban hành quyết định điều chuyển. Điều quan trọng hơn là tài sản có thực sự được đưa vào sử dụng, khai thác đúng mục đích và tạo ra giá trị phục vụ xã hội hay không.
Đối với doanh nghiệp và người dân, nhà, đất công được sử dụng hiệu quả có thể góp phần cải thiện hạ tầng, mở rộng không gian cung cấp dịch vụ công và tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế địa phương. Ngược lại, tài sản bỏ trống kéo dài không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư ban đầu mà còn có thể phát sinh chi phí bảo quản, xuống cấp và nguy cơ thất thoát.
Vì vậy, phương án xử lý cần xuất phát từ công năng và nhu cầu thực tế của từng tài sản. Cơ sở còn phù hợp có thể được bố trí cho cơ quan, đơn vị khác sử dụng; tài sản đủ điều kiện có thể đưa vào khai thác theo quy định; trường hợp không còn nhu cầu hoặc không thể tiếp tục sử dụng phải được xử lý theo đúng thẩm quyền.
Cùng với đó, việc công khai dữ liệu, tiến độ và kết quả xử lý cần được thực hiện thường xuyên. Mỗi tài sản phải xác định rõ đơn vị quản lý, tình trạng sử dụng, phương án xử lý và thời hạn hoàn thành. Những trường hợp chậm trễ cần được nhận diện để làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm thay vì tiếp tục chuyển hồ sơ qua nhiều cấp.
Công điện 68/CĐ-TTg cũng yêu cầu xử lý nghiêm tình trạng chây ỳ, đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm, gây khó dễ hoặc trục lợi trong quá trình xử lý nhà, đất dôi dư; đồng thời gắn kết quả thực hiện với đánh giá trách nhiệm người đứng đầu.
Tổng kiểm kê đã giúp nhận diện quy mô và những khoảng trống trong quản lý tài sản công. Nhưng một tài sản chỉ thực sự phát huy giá trị khi được quản lý đúng, sử dụng hiệu quả và không bị bỏ quên sau những thay đổi về tổ chức bộ máy. Chuyển kết quả kiểm kê thành hành động cụ thể, có thời hạn và có người chịu trách nhiệm chính là yêu cầu quan trọng để chống lãng phí nguồn lực nhà nước.