Trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Nông Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 48 (AMAF 48), diễn ra ngày 29/10 tại Singapore, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp đã tham dự và có bài phát biểu về tăng cường an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp bền vững và thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực.
Hội nghị do Singapore chủ trì, tập trung thảo luận những vấn đề chiến lược của ngành lương thực, thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp ASEAN. Đây được xác định là những lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực, sức khỏe cộng đồng, sinh kế người dân, thương mại và khả năng thích ứng của khu vực trước những tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu.
Tại hội nghị, Việt Nam đánh giá cao báo cáo và các kiến nghị của Chủ tịch Hội nghị Quan chức cấp cao ASEAN về Nông lâm nghiệp (SOM-AMAF), đồng thời ghi nhận nỗ lực của các quốc gia thành viên, Ban Thư ký ASEAN và các cơ quan chuyên ngành trong thúc đẩy hợp tác về lương thực, thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, những kết quả đạt được trong bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp bền vững, chuyển đổi số và ứng phó với biến đổi khí hậu là nền tảng quan trọng để ASEAN triển khai các chương trình hợp tác trong giai đoạn mới.
Trong đó, Kế hoạch ngành Lương thực, Thực phẩm, Nông nghiệp và Lâm nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030 được xem là khuôn khổ quan trọng nhằm cụ thể hóa tầm nhìn phát triển ngành đến năm 2045. Để kế hoạch đi vào thực chất, Việt Nam đề xuất ba nhóm ưu tiên trọng tâm.
![]() |
| Hội nghị Bộ trưởng Nông Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 48 khai mạc tại Singapore. Ảnh Đoàn công tác. |
Ưu tiên đầu tiên là tăng cường an ninh lương thực khu vực và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng nông sản trước những biến động khó lường của thị trường và các yếu tố bên ngoài.
Việt Nam ủng hộ nâng cao hiệu quả hoạt động của Hệ thống thông tin an ninh lương thực ASEAN (AFSIS) và Cơ chế Dự trữ gạo khẩn cấp ASEAN+3 (APTERR), đồng thời đề nghị tăng cường phối hợp giữa các cơ chế hiện có để nâng cao năng lực dự báo, chia sẻ thông tin và ứng phó với các tình huống khẩn cấp.
Đáng chú ý, Việt Nam đề xuất mở rộng trao đổi dữ liệu về phân bón, thức ăn chăn nuôi và những đầu vào thiết yếu khác của sản xuất nông nghiệp. Việc chủ động cập nhật thông tin sẽ giúp các quốc gia nhận diện sớm nguy cơ đứt gãy nguồn cung, có phương án điều chỉnh phù hợp, duy trì hoạt động sản xuất và bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm ổn định.
Ưu tiên thứ hai là chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp bền vững, phát thải thấp, có khả năng thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
Việt Nam hoan nghênh Kế hoạch triển khai nông nghiệp tái sinh và thích ứng ASEAN giai đoạn 2026-2030, cùng Tuyên bố AMAF về thúc đẩy nông nghiệp tái sinh và thích ứng vì một ASEAN bền vững, bảo đảm an ninh lương thực.
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh một số nhiệm vụ cần được ưu tiên gồm cải thiện sức khỏe đất, sử dụng hiệu quả nguồn nước, phát triển sản xuất lúa phát thải thấp và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn.
Theo đó, hợp tác khu vực cần chú trọng chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cho người sản xuất, đồng thời gắn các chương trình hỗ trợ với những mô hình có tính ứng dụng cao, có thể nhân rộng và mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, Việt Nam ủng hộ dự thảo Tuyên bố của Lãnh đạo ASEAN về Sáng kiến trồng một tỷ cây và kế hoạch triển khai. Việt Nam cũng đề xuất tăng cường hợp tác trong phục hồi cảnh quan rừng, quản lý rừng bền vững, phòng, chống cháy rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, việc huy động nguồn lực tài chính được xác định là yếu tố quan trọng. Các quốc gia ASEAN cần tăng cường phối hợp với đối tác phát triển, tổ chức tài chính quốc tế và khu vực tư nhân nhằm thu hút tài chính khí hậu, nguồn vốn ưu đãi và đầu tư cho nông nghiệp, lâm nghiệp bền vững.
Đặc biệt, các cơ chế huy động vốn cần tạo điều kiện để nông hộ quy mô nhỏ, hợp tác xã và cộng đồng địa phương có cơ hội tiếp cận, thụ hưởng, qua đó bảo đảm quá trình chuyển đổi xanh không chỉ tập trung ở những doanh nghiệp có tiềm lực lớn.
Ưu tiên thứ ba Việt Nam đề xuất là thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và tăng cường liên kết chuỗi giá trị nông sản trong khu vực.
Việt Nam kiến nghị ASEAN mở rộng hợp tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất, bảo đảm an toàn thực phẩm và cải thiện năng lực cạnh tranh của nông sản.
Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ cần phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế, đi đôi với đào tạo, phát triển dịch vụ khuyến nông và tăng cường sự tham gia của hợp tác xã, doanh nghiệp. Đây là những yếu tố quan trọng giúp nông dân tiếp cận, làm chủ và khai thác hiệu quả các giải pháp công nghệ.
Bên cạnh đó, Việt Nam đề nghị thúc đẩy truy xuất nguồn gốc, chứng nhận điện tử và hợp tác trong thực hiện các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch động vật, thực vật trên cơ sở khoa học và tiêu chuẩn quốc tế. Những giải pháp này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng, tính minh bạch của sản phẩm mà còn tạo thuận lợi cho thương mại nông sản nội khối.
Việt Nam cũng hoan nghênh đề xuất của Singapore về thành lập Trung tâm giải pháp cho nông hộ quy mô nhỏ trong khu vực. Đồng thời, bày tỏ mong muốn tiếp tục trao đổi về các giải pháp dựa trên dữ liệu và cơ chế tài chính phù hợp, bảo đảm quản trị dữ liệu có trách nhiệm và đáp ứng nhu cầu thực tế của người nông dân.
Trong khuôn khổ phiên thảo luận cấp cao tại AMAF 48, lãnh đạo ngành nông nghiệp các nước ASEAN thống nhất đẩy nhanh triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, Kế hoạch chiến lược Cộng đồng Kinh tế ASEAN giai đoạn 2026-2030, Tầm nhìn ngành Lương thực, Thực phẩm, Nông nghiệp và Lâm nghiệp ASEAN đến năm 2045 và Kế hoạch ngành giai đoạn 2026-2030.
Nhấn mạnh yêu cầu chuyển hóa các cam kết thành kết quả cụ thể, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho rằng, hiệu quả hợp tác cần được đánh giá thông qua những chuyển biến thực chất về năng suất, thu nhập, hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng chống chịu của người sản xuất.
Đây cũng là cơ sở để theo dõi tiến độ thực hiện các mục tiêu chung, bảo đảm những chương trình hợp tác của ASEAN không dừng lại ở định hướng chính sách mà thực sự gắn với điều kiện sản xuất, nhu cầu phát triển của từng quốc gia và đời sống người dân trong khu vực.