Hội thảo Việt Nam – Trung Quốc trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu 2026 tại TP. Hồ Chí Minh; lãnh đạo thành phố, các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp đề xuất tăng liên kết sản xuất, logistics và chuyển giao công nghệ. Vấn đề quan trọng không chỉ là mở rộng thương mại, mà còn giúp doanh nghiệp Việt nâng năng lực cung ứng, giảm chi phí và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
![]() |
| Các diễn giả tham gia phiên tọa đàm “Chính sách và giải pháp triển khai hợp tác liên doanh Việt Nam – Trung Quốc” tại Hội thảo Doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc: Kết nối sản xuất, logistics và chuỗi giá trị toàn cầu. Ảnh: BTC |
Theo phát biểu của lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại hội thảo ngày 29/10/2026, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Quốc năm 2025 đạt khoảng 256,4 tỷ USD. Trong khi đó, ông Yang Wen Bin, Quyền Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam – Chi hội TP. Hồ Chí Minh, dẫn số liệu Hải quan Việt Nam cho biết, thương mại song phương trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 253,1 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ.
Quy mô giao thương cho thấy quan hệ kinh tế giữa hai nước có sức kết nối lớn. Tuy nhiên, kim ngạch tăng chưa đồng nghĩa doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia sâu vào những công đoạn tạo giá trị cao. Bài toán đặt ra là làm sao chuyển hoạt động mua bán hàng hóa thành liên kết sản xuất, phát triển nhà cung ứng, tiếp nhận công nghệ và mở rộng thị trường.
![]() |
| Phó Chủ tịch Thường trực UBND TPHCM Nguyễn Lộc Hà (bìa trái) cùng các đại biểu tham dự Hội thảo Doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc với chủ đề “Kết nối sản xuất, logistics và chuỗi giá trị toàn cầu”, sáng 29/10. Ảnh: BTC |
Theo ông Yang Wen Bin, hai bên cần tăng hợp tác trong sản xuất tiên tiến, điện tử, công nghệ thông tin, năng lượng xanh và công nghiệp hỗ trợ. Đây là những lĩnh vực có thể tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt tham gia mạng lưới cung ứng, nếu đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, tiến độ, tiêu chuẩn kỹ thuật và năng lực quản trị.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ hội không nhất thiết bắt đầu từ những dự án đầu tư lớn. Việc trở thành nhà cung ứng một bộ phận, linh kiện hoặc dịch vụ đạt chuẩn cho doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất cũng có thể mở ra thị trường ổn định hơn. Nhưng để làm được điều đó, doanh nghiệp phải chủ động nâng cấp năng lực thay vì chỉ chờ đối tác tìm đến.
Từ ngày 1/7/2025, việc hợp nhất TP. Hồ Chí Minh với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu hình thành không gian phát triển rộng hơn 6.772 km², với dân số trên 14 triệu người, theo thông tin trong phát biểu của lãnh đạo thành phố.
Không gian mới kết nối trung tâm tài chính, thương mại và dịch vụ với các khu công nghiệp, trung tâm công nghệ cao và hệ thống cảng biển, trong đó có cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải. Đây là lợi thế để tổ chức chuỗi sản xuất liên vùng, từ cung ứng nguyên liệu, chế tạo, lưu kho đến vận chuyển hàng hóa ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên, lợi thế địa lý chỉ phát huy đầy đủ khi các mắt xích vận hành thông suốt. Nếu hàng hóa phải mất nhiều thời gian trung chuyển, thủ tục còn phức tạp hoặc dữ liệu giữa nhà máy, kho bãi và cảng chưa liên thông, chi phí phát sinh sẽ làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh đề cập ba hướng hợp tác trọng tâm: nâng năng lực nhà cung ứng và liên kết sản xuất; cải thiện kết nối cảng biển, giao thông và logistics; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, điều cần quan tâm là những định hướng này sẽ được chuyển thành dự án và cơ chế phối hợp cụ thể như thế nào. Một hệ thống hạ tầng tốt không chỉ phục vụ các tập đoàn lớn mà còn cần giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận dịch vụ vận tải, kho bãi và phân phối với chi phí hợp lý.
![]() |
| Giám đốc Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư tại TPHCM (HCMC C4IR) Lê Trường Duy phát biểu tại Hội thảo Doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc Kết nối sản xuất, logistics và chuỗi giá trị toàn cầu. Ảnh: BTC |
Trong chuỗi giá trị hiện đại, logistics không còn đơn thuần là vận chuyển hàng hóa. Hiệu quả phụ thuộc vào sự phối hợp giữa nhà máy, nhà cung ứng, kho bãi, cảng biển và hệ thống phân phối. Một mắt xích chậm trễ có thể làm tăng chi phí cho toàn bộ chuỗi.
Ông Lê Trường Duy, lãnh đạo Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư tại TP. Hồ Chí Minh (HCMC C4IR), cho rằng cần tăng ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và các giải pháp logistics xanh để giảm chi phí, rút ngắn thời gian vận chuyển và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, chuyển đổi số trong logistics cần bắt đầu bằng những vấn đề cụ thể: theo dõi hàng hóa, quản lý tồn kho, lập kế hoạch vận tải, kết nối dữ liệu và giảm thời gian chờ tại các khâu giao nhận. Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn chi phí và tiến độ, thay vì trở thành khoản đầu tư tốn kém nhưng khó đo hiệu quả.
Đại diện phía Trung Quốc cũng đề xuất tăng hợp tác trong vận tải đa phương thức, cửa khẩu thông minh, kho lạnh và kết nối hạ tầng xuyên biên giới. Những hướng đi này có thể hỗ trợ lưu thông hàng hóa, nhất là khi doanh nghiệp cần phối hợp nhiều phương thức vận tải và kiểm soát chất lượng trong quá trình giao nhận.
Dù vậy, triển khai logistics thông minh không thể chỉ trông chờ vào công nghệ. Hạ tầng giao thông, thủ tục thông quan, tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng chia sẻ dữ liệu giữa các bên phải được cải thiện đồng bộ. Nếu từng khâu vẫn vận hành rời rạc, lợi ích của công nghệ sẽ bị hạn chế.
Một nội dung đáng chú ý tại hội thảo là yêu cầu gắn chuyển giao công nghệ với năng lực của doanh nghiệp tiếp nhận. Theo ông Lê Trường Duy, công nghệ tiên tiến chỉ tạo ra giá trị thực sự khi đi cùng nhân lực chất lượng cao, năng lực vận hành và tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp.
Đây là điểm doanh nghiệp Việt Nam cần tính toán kỹ khi hợp tác với đối tác nước ngoài. Tiếp nhận máy móc hoặc quy trình hiện đại mới chỉ là bước đầu. Doanh nghiệp còn cần đội ngũ có thể vận hành, bảo trì, kiểm soát chất lượng và từng bước cải tiến công nghệ để phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước.
Tổng Lãnh sự Trung Quốc tại TP. Hồ Chí Minh cho biết các doanh nghiệp Trung Quốc có kinh nghiệm trong sản xuất thông minh, logistics hiện đại, hạ tầng và vận hành nền tảng đổi mới sáng tạo. Phía Trung Quốc mong muốn tăng hợp tác giữa các khâu thượng nguồn và hạ nguồn, chuyển giao công nghệ, quản lý quy trình, kiểm soát chất lượng và đào tạo nhân lực.
Để những đề xuất này đi vào thực tế, cần lựa chọn nhu cầu hợp tác rõ ràng, xác định đối tác có năng lực và xây dựng lộ trình triển khai phù hợp. HCMC C4IR cũng đặt ra các câu hỏi về nhu cầu cụ thể, đối tác đáp ứng, điều kiện thực hiện và đầu mối theo dõi sau hội thảo.
Cách tiếp cận này có ý nghĩa thiết thực: kết quả hợp tác không nên chỉ được đo bằng số cuộc gặp hay biên bản ghi nhớ, mà phải thể hiện qua dự án được triển khai, nhà cung ứng được nâng cấp và công nghệ được ứng dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
![]() |
| Quyền Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam, Chi hội TP. Hồ Chí Minh - ông Yang Wen Bin phát biểu tại Hội thảo Doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc với chủ đề “Kết nối sản xuất, logistics và chuỗi giá trị toàn cầu”, sáng 29/10, tại khách sạn The Reverie Saigon. Ảnh: BTC |
Bên cạnh năng lực sản xuất và logistics, yêu cầu phát triển bền vững ngày càng tác động trực tiếp đến khả năng tham gia chuỗi giá trị. Ông Yang Wen Bin nhấn mạnh việc doanh nghiệp chú trọng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG), thúc đẩy chuyển đổi xanh và sản xuất phát thải carbon thấp.
Đối với doanh nghiệp Việt Nam, đáp ứng tiêu chuẩn xanh không chỉ là yêu cầu về hình ảnh hay trách nhiệm xã hội. Đây còn là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận đối tác, thị trường và đơn hàng. Nếu không chuẩn bị về quy trình sản xuất, sử dụng năng lượng, quản lý nguyên liệu và dữ liệu liên quan, doanh nghiệp có thể gặp khó khi tham gia chuỗi cung ứng có yêu cầu cao.
Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam – Chi hội TP. Hồ Chí Minh hiện quy tụ gần 500 hội viên trong các lĩnh vực sản xuất, thương mại, tài chính, logistics, xây dựng và công nghệ. Mạng lưới này có thể hỗ trợ kết nối nhu cầu, tìm kiếm đối tác và trao đổi thông tin giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Dẫu vậy, vai trò kết nối chỉ tạo hiệu quả khi có cơ chế theo dõi và trách nhiệm thực hiện rõ ràng. Sau hội thảo, điều cần thiết là cụ thể hóa các nhu cầu hợp tác thành danh mục dự án, xác định đầu mối phụ trách và đánh giá kết quả bằng những chỉ số có thể kiểm chứng như chi phí logistics, thời gian giao hàng, tỷ lệ nội địa hóa, năng lực nhà cung ứng và mức độ ứng dụng công nghệ.
Hợp tác Việt Nam – Trung Quốc đang có nền tảng thương mại lớn và nhiều lĩnh vực bổ trợ lẫn nhau. Với TP. Hồ Chí Minh, lợi thế công nghiệp, dịch vụ và cảng biển tạo điều kiện kết nối các mắt xích sản xuất. Nhưng giá trị cuối cùng phải được nhìn từ kết quả doanh nghiệp đạt được: chi phí giảm, năng suất tăng, công nghệ được làm chủ và sản phẩm có vị trí tốt hơn trong chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.