Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đổi mới công nghệ không đơn thuần là đầu tư máy móc, thiết bị mới. Đó còn là quá trình thay đổi cách tổ chức sản xuất, quản trị, kiểm soát chất lượng và tiếp cận thị trường. Khi nguồn lực tài chính, nhân sự và kinh nghiệm công nghệ còn hạn chế, việc lựa chọn đúng giải pháp có thể quyết định hiệu quả của cả một phương án đầu tư.
Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết những yêu cầu này, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Thái Nguyên ban hành Kế hoạch số 463/KH-UBND ngày 13/10/2026, triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ giai đoạn 2026–2030.
Kế hoạch đặt mục tiêu nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua tiếp nhận, chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện và làm chủ công nghệ. Các lĩnh vực được khuyến khích bao gồm công nghệ số, tự động hóa, tiết kiệm năng lượng và công nghệ thân thiện với môi trường.
Đáng chú ý, tỉnh Thái Nguyên định hướng gắn hoạt động hỗ trợ với những ngành, lĩnh vực có lợi thế, sản phẩm chủ lực, công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Đây là cách tiếp cận hướng tới nhu cầu sản xuất, kinh doanh thực tế, thay vì triển khai hỗ trợ công nghệ theo phong trào.
![]() |
| Ứng dụng công nghệ và tự động hóa trong sản xuất góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa. (Ảnh minh họa) |
Một trong những nội dung quan trọng của kế hoạch là khảo sát, đánh giá và cập nhật nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp theo ngành nghề, quy mô và mức độ ưu tiên.
Thông qua hoạt động này, cơ quan chức năng sẽ đánh giá sơ bộ hiện trạng công nghệ, quy trình sản xuất, mức độ tự động hóa và khả năng tiếp nhận công nghệ của từng doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nhu cầu của doanh nghiệp được kết nối với viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia và các tổ chức cung ứng công nghệ.
Cách làm này có ý nghĩa thiết thực đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thay vì tự tìm kiếm giải pháp trong một thị trường công nghệ đa dạng, doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận tư vấn, lựa chọn phương án phù hợp với năng lực tài chính và định hướng phát triển.
Kế hoạch cũng đề cập việc hỗ trợ tư vấn chuyển đổi số trong quy trình kinh doanh, quản trị, sản xuất, công nghệ và chuyển đổi mô hình kinh doanh; hỗ trợ thuê, mua giải pháp chuyển đổi số để tự động hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Với doanh nghiệp, giá trị của những hỗ trợ này cần được nhìn nhận từ kết quả sau đầu tư: quy trình có được cải thiện hay không, chất lượng sản phẩm có ổn định hơn không, chi phí vận hành có được kiểm soát tốt hơn không và khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng có được nâng lên không.
Đó cũng là cơ sở để việc lựa chọn công nghệ gắn chặt với bài toán kinh doanh, tránh tình trạng đầu tư thiết bị nhưng không khai thác hết công suất hoặc ứng dụng phần mềm mà thiếu sự thay đổi trong phương thức quản trị.
Một điểm đáng chú ý khác là kế hoạch xác định vai trò kết nối giữa doanh nghiệp với các tổ chức khoa học và công nghệ, đặc biệt là Đại học Thái Nguyên và các trường đại học thành viên.
Các đơn vị này được giao phối hợp khảo sát nhu cầu, giới thiệu kết quả nghiên cứu, công nghệ và chuyên gia; đồng thời hỗ trợ phát triển, hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, trình diễn và hiệu chỉnh quy trình sản xuất theo nhu cầu doanh nghiệp.
Sự kết nối này mở ra cơ hội đưa kết quả nghiên cứu đến gần hơn với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, để tạo ra giá trị kinh tế, công nghệ cần đáp ứng điều kiện vận hành thực tế, phù hợp với năng lực nhân sự và có khả năng tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.
Vì vậy, quá trình hợp tác cần hướng tới những đầu ra cụ thể như công nghệ được tiếp nhận và vận hành ổn định, sản phẩm được hoàn thiện, quy trình được cải tiến và doanh nghiệp có đủ năng lực duy trì công nghệ sau khi kết thúc hỗ trợ.
Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, kế hoạch còn đặt ra nội dung tư vấn tìm kiếm, lựa chọn, giải mã, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ phù hợp với lĩnh vực hoạt động và định hướng phát triển.
Theo kế hoạch, tỉnh Thái Nguyên phấn đấu hỗ trợ tối thiểu 2 doanh nghiệp nhỏ và vừa mỗi năm thực hiện ứng dụng, tiếp nhận, chuyển giao, đổi mới hoặc hoàn thiện công nghệ. Việc hỗ trợ phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách và các quy định hiện hành.
Kinh phí được bố trí từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác. Doanh nghiệp tham gia phải bảo đảm nguồn lực đối ứng, nhân lực và điều kiện cần thiết để tiếp nhận, vận hành, làm chủ công nghệ, đồng thời chịu trách nhiệm về phương án đầu tư và việc sử dụng kinh phí đúng mục đích.
Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối triển khai; Sở Tài chính phối hợp tham mưu bố trí kinh phí. UBND các xã, phường có trách nhiệm tuyên truyền, rà soát nhu cầu và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các hoạt động hỗ trợ. Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng được giao phối hợp cùng doanh nghiệp xác định nhu cầu và xây dựng phương án đổi mới công nghệ.
Với mục tiêu phát triển doanh nghiệp, điều cần quan tâm không chỉ là số lượng đơn vị tham gia mà còn là hiệu quả sau hỗ trợ. Việc khảo sát đúng nhu cầu, lựa chọn đúng công nghệ, bảo đảm nguồn lực thực hiện và theo dõi kết quả ứng dụng sẽ quyết định khả năng chuyển hóa chính sách thành năng lực cạnh tranh thực chất.
Kế hoạch 463/KH-UBND đặt ra khuôn khổ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ trong giai đoạn 2026–2030. Khi được triển khai sát thực tế, chương trình có thể góp phần giúp doanh nghiệp Thái Nguyên cải thiện năng suất, nâng chất lượng sản phẩm và chủ động hơn trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường.