Bí xanh thơm là cây trồng đặc hữu, được người dân tại khu vực phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, thuộc tỉnh Bắc Kạn trước khi sáp nhập, gìn giữ và phát triển qua nhiều thế hệ. Sản phẩm có hai loại chính là bí vỏ phấn và bí vỏ xanh, nổi bật bởi mùi thơm đặc trưng của thân, lá, hoa và quả.
Ngày 9/9/2026, Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 511/QĐ-SHTT, cấp Giấy chứng nhận đăng ký Chỉ dẫn địa lý số 00156 cho sản phẩm quả bí xanh thơm của tỉnh Thái Nguyên. Khu vực địa lý được bảo hộ có diện tích 875,16 ha, thuộc 11 xã; 29 chủ thể được ghi nhận sử dụng chỉ dẫn địa lý, gồm 4 hợp tác xã và 25 hộ sản xuất.
Tại hội nghị công bố ngày 27/10, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ nhấn mạnh yêu cầu quản lý, kiểm tra, giám sát và bảo vệ chỉ dẫn địa lý; đồng thời hỗ trợ các chủ thể thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ khi sử dụng tên gọi được bảo hộ.
Đây là bước tiến quan trọng trong bảo vệ danh tiếng sản phẩm, hạn chế hành vi mạo danh và tăng khả năng nhận diện nguồn gốc. Tuy nhiên, chứng nhận pháp lý mới tạo tiền đề, chưa tự động bảo đảm giá bán cao hơn hay đầu ra ổn định.
![]() |
| Ông Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) phát biểu tại Hội nghị. (Ảnh: Thu Cúc) |
Từ năm 2016, bí xanh thơm Bắc Kạn đã được đưa về Hà Nội để tiếp cận thị trường tiêu thụ lớn. Kinh nghiệm thực tế này cho thấy, đưa một đặc sản vùng cao đến người tiêu dùng đô thị không chỉ cần chất lượng mà còn đòi hỏi khả năng duy trì nguồn cung, tổ chức vận chuyển và xây dựng mạng lưới phân phối phù hợp.
Với nông sản tươi, biến động cung cầu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá bán và thu nhập của người trồng. Nếu sản xuất tăng nhưng thị trường không hấp thụ kịp, lợi thế về năng suất và chất lượng chưa chắc chuyển thành lợi nhuận. Ngược lại, khi có đầu ra ổn định, chất lượng đồng đều và thông tin nguồn gốc rõ ràng, sản phẩm sẽ có thêm cơ hội cạnh tranh.
Vì vậy, hiệu quả của việc bảo hộ cần được đánh giá bằng những chỉ số cụ thể: giá bán tại vườn, sản lượng tiêu thụ qua từng kênh, số hộ tham gia liên kết và thu nhập thực tế của người sản xuất. Việc so sánh dữ liệu trước và sau bảo hộ cũng cần thiết để xác định mức độ đóng góp của thương hiệu vào giá trị kinh tế.
![]() |
| Ông Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ trao Quyết định và Giấy chứng nhận đăng ký Chỉ dẫn địa lý “Bắc Kạn” cho sản phẩm quả bí xanh thơm của tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: Thu Cúc) |
![]() |
| Ông Cao Minh Hải Trao Giấy chứng nhận đăng ký Chỉ dẫn địa lý “Bắc Kạn” sản phẩm quả bí xanh thơm cho các hộ sản xuất xã Chợ Rã. (Ảnh: Thu Cúc) |
Để phát huy lợi thế của chỉ dẫn địa lý “Bắc Kạn”, hợp tác xã cần được hỗ trợ trở thành đầu mối tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và kết nối tiêu thụ. Các hộ sản xuất cần tuân thủ quy trình, bảo đảm nguồn gốc và đáp ứng tiêu chí sử dụng chỉ dẫn địa lý.
Song song với đó, cần xây dựng kế hoạch sản xuất gắn với nhu cầu thị trường, tăng cường liên kết với doanh nghiệp thu mua và hệ thống phân phối. Bao bì nhận diện, truy xuất nguồn gốc và quảng bá thương hiệu cần đi cùng năng lực cung ứng thực tế, tránh tình trạng sản phẩm được biết đến rộng rãi nhưng thiếu đơn hàng ổn định.
![]() |
| Các đại biểu tham quan gian hàng trưng bày các sản phẩm được làm từ quả bí xanh thơm của tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: Thu Cúc) |
Các phương án chế biến sâu cũng có thể được nghiên cứu nhằm đa dạng hóa đầu ra, kéo dài thời gian bảo quản và giảm phụ thuộc vào tiêu thụ quả tươi. Tuy nhiên, mọi hướng đi cần dựa trên nhu cầu thị trường và hiệu quả đầu tư, thay vì chỉ mở rộng sản xuất theo phong trào.
Bí xanh thơm Bắc Kạn đã có thêm công cụ pháp lý để bảo vệ thương hiệu. Chặng đường tiếp theo là chuyển lợi thế đó thành đơn hàng, giá trị gia tăng và thu nhập bền vững. Thành công của chỉ dẫn địa lý không chỉ nằm ở giấy chứng nhận, mà phải được đo bằng sức tiêu thụ của thị trường và lợi ích thực tế mà người nông dân nhận được.
