Sau điều chỉnh địa giới hành chính, TP. Hồ Chí Minh phát triển thành siêu đô thị đa trung tâm với quy mô dân số khoảng 14 triệu người. Theo số liệu từ Sở Xây dựng cung cấp, tính đến tháng 6/2026, Thành phố quản lý 12.772.088 phương tiện giao thông, gồm 1.223.800 ô tô và 11.548.288 mô tô. Sự gia tăng phương tiện cá nhân cùng tốc độ đô thị hóa nhanh đang tạo áp lực lớn lên mạng lưới giao thông hiện hữu.
Hệ thống đường vành đai chưa hoàn chỉnh, trong đó Vành đai 2 còn 13,75 km chưa khép kín; các tuyến Vành đai 3, Vành đai 4 và cao tốc liên vùng đang trong quá trình thi công hoặc chuẩn bị đầu tư. Trong khi đó, đường sắt đô thị mới có tuyến metro số 1 dài gần 20 km vận hành thương mại, chưa hình thành mạng lưới kết nối diện rộng. Tỷ lệ người dân sử dụng giao thông công cộng chỉ đạt khoảng 7,23%, hệ thống xe buýt gom chưa phủ kín, góp phần khiến phương tiện cá nhân tập trung tại các cửa ngõ. Thành phố hiện có 28 điểm nguy cơ ùn tắc giao thông.
![]() |
| TP. Hồ Chí Minh cần khoảng 1,12 triệu tỷ đồng đầu tư hạ tầng giao thông giai đoạn 2026–2030 |
Theo Sở Xây dựng, tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển hạ tầng giao thông giai đoạn 2026–2030 khoảng 1,12 triệu tỷ đồng, nhưng ngân sách mới cân đối được khoảng 616.000 tỷ đồng, tương đương 55%. Khoảng cách lớn giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng đặt ra yêu cầu huy động thêm nguồn lực xã hội, đồng thời lựa chọn dự án có tính kết nối và hiệu quả khai thác cao.
Một trong những giải pháp được Thành phố chú trọng là vận dụng Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16 để đẩy nhanh tiến độ đầu tư, tăng tính chủ động trong huy động nguồn lực và thu hút nhà đầu tư chiến lược, định hướng phát triển đô thị theo mô hình TOD xung quanh 11 tuyến đường sắt đô thị, tổng chiều dài gần 500 km và tuyến Vành đai 3.
Theo các cơ chế được nêu trong luật, Thành phố có thể quy định chính sách phát triển đô thị tại khu vực TOD, chỉ tiêu sử dụng đất, tổ chức không gian ngầm và không gian trên cao, chuyển nhượng chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch giữa các dự án; đồng thời đấu giá các khu đất sạch quanh nhà ga, nút giao để tạo nguồn thu tái đầu tư hạ tầng.
Mô hình TOD không chỉ giúp tăng khả năng tiếp cận metro mà còn mở ra cơ hội khai thác giá trị đất đai gắn với hạ tầng. Nếu được triển khai đồng bộ, đây có thể là một trong những hướng tạo thêm nguồn lực phát triển giao thông, giảm áp lực lên ngân sách và thúc đẩy hình thành các trung tâm đô thị gắn với vận tải công cộng.
Sờ Xây dựng cho biết, để nâng cao hiệu quả triển khai, Sở định hướng phối hợp các sở, ngành tham mưu danh mục dự án lớn, quan trọng, cấp bách, tập trung nguồn lực và tránh đầu tư dàn trải. Các ban quản lý dự án cần ưu tiên bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; công khai tiến độ và kịp thời xử lý vướng mắc vượt thẩm quyền.
Trong quá trình thi công, chủ đầu tư cần lập tiến độ chi tiết, tăng cường giám sát định kỳ, nâng cao năng lực nhà thầu và tổ chức thi công liên tục đối với dự án cấp bách. Sở Xây dựng cũng đề xuất đánh giá giải ngân theo tiêu chí KPI, áp dụng cơ chế cảnh báo “thẻ vàng”, “thẻ đỏ”, điều chuyển vốn hoặc thay thế nhà thầu, đơn vị tư vấn yếu kém, chậm tiến độ. Công nghệ BIM, GIS, AI, Big Data và Digital Twin được định hướng ứng dụng vào quản lý, giám sát công trình và tổ chức giao thông thông minh.
Về thứ tự ưu tiên, Thành phố tập trung hoàn thiện các tuyến và đầu mối kết nối liên vùng, nhất là đường vành đai, cửa ngõ và các trục kết nối cảng biển, cảng thủy nội địa, sân bay, khu công nghiệp, trung tâm logistics và các đô thị trong vùng. Cùng với đó là phát triển đường sắt đô thị làm xương sống vận tải hành khách công cộng, khai thác lợi thế giao thông đường thủy và thúc đẩy logistics đa phương thức.
Điểm đáng chú ý là định hướng ưu tiên công trình kết nối thay vì đầu tư riêng lẻ. Một cảng biển hiện đại nhưng thiếu đường kết nối thuận lợi vẫn khó phát huy hết năng lực logistics; tương tự, metro chỉ phát huy hiệu quả khi hành khách có thể tiếp cận nhà ga thuận tiện bằng xe buýt và các phương thức khác.
Mục tiêu của Thành phố là chuyển từ tư duy “đầu tư từng công trình giao thông” sang “đầu tư một hệ thống giao thông tích hợp”. Hiệu quả không chỉ được đo bằng số kilômét đường hay số tuyến metro được xây dựng, mà còn ở khả năng giúp người dân di chuyển thuận tiện giữa các phương thức vận tải và giúp hàng hóa lưu thông từ cảng đến nhà máy, kho bãi, thị trường với thời gian, chi phí hợp lý.