Theo Chủ tịch Hội đồng Chuyên gia FREA-HCM, TS. Đinh Thế Hiển, muốn cải thiện đời sống người dân bền vững, Việt Nam cần nâng năng suất lao động tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Ông lưu ý, tiền lương tăng nhanh hơn năng suất tại một số ngành sản xuất đang tạo sức ép lên chi phí và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nhận định này đặt ra yêu cầu nhìn sâu hơn vào chất lượng tăng trưởng. Quy mô nền kinh tế mở rộng cần đi cùng khả năng tích lũy của doanh nghiệp và cải thiện thu nhập thực tế của người lao động.
Nâng năng suất để tạo dư địa tăng thu nhập
Cảnh báo của TS. Đinh Thế Hiển, Chủ tịch Hội đồng Chuyên gia FREA-HCM có điểm tương đồng với phân tích của World Bank trong báo cáo Việt Nam 2045: Nâng cao vị thế thương mại trong một thế giới thay đổi, công bố năm 2024. Báo cáo nhấn mạnh sức ép đối với mô hình xuất khẩu dựa vào lao động giá rẻ khi tiền lương tăng mà năng suất không cải thiện tương ứng.
![]() |
| So sánh ước tính giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị chi phí lao động trong ngành sản xuất, lấy Việt Nam làm mốc 100. Biểu đồ mang tính tham khảo, không phải số liệu thống kê chính thức năm 2026. |
Báo cáo dẫn mức giá trị gia tăng trên mỗi giờ làm việc trong ngành chế biến, chế tạo của Việt Nam khoảng 6,7 USD, trong khi Malaysia đạt 27,7 USD. Đây là dữ liệu được sử dụng trong báo cáo năm 2024, không phải mức năng suất cập nhật năm 2026.
Khoảng cách này không chỉ phản ánh kỹ năng của người lao động. Năng suất còn phụ thuộc vào máy móc, công nghệ, cơ cấu ngành, chất lượng quản trị và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị.
Trong khi đó, theo Cục Thống kê, thu nhập bình quân của người lao động trong 9 tháng năm 2026 đạt 9,1 triệu đồng/tháng, tăng 9,1% so với cùng kỳ. Riêng lao động làm công hưởng lương có thu nhập bình quân 10,1 triệu đồng/tháng, tăng 7,9%.
Đà cải thiện thu nhập đặt ra yêu cầu nâng hiệu quả sản xuất để doanh nghiệp duy trì khả năng trả lương và đầu tư dài hạn. Số liệu thu nhập này phản ánh diễn biến của thị trường lao động, chưa phải căn cứ để xác định mức chênh lệch giữa tăng lương và tăng năng suất trong từng ngành.
Áp lực chi phí dễ nhận thấy ở những doanh nghiệp gia công có biên lợi nhuận thấp. Khi tiền lương và các khoản đầu vào tăng nhưng giá bán khó điều chỉnh, doanh nghiệp phải cải thiện hiệu quả vận hành để bảo đảm lợi nhuận và giữ đơn hàng.
Nâng năng suất vì thế không thể chỉ dựa vào tăng cường độ hoặc kéo dài thời gian làm việc. Giảm tỷ lệ hàng lỗi, rút ngắn thời gian chờ giữa các công đoạn và quản lý tồn kho tốt hơn đều có thể giúp doanh nghiệp tạo thêm giá trị.
Những cải thiện này mở rộng dư địa tăng lương, đồng thời tạo nguồn lực tái đầu tư. Phần giá trị tăng thêm cũng cần được chuyển thành chính sách thu nhập và điều kiện làm việc phù hợp để người lao động cùng hưởng lợi.
Tăng trưởng 10% và yêu cầu nâng năng lực doanh nghiệp
TS. Đinh Thế Hiển, Chủ tịch Hội đồng Chuyên gia FREA-HCM nhận định Việt Nam có thể đạt tăng trưởng GDP 10% nhờ các động lực từ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư công và tiêu dùng, dịch vụ. Tuy nhiên, để tăng trưởng mang lại hiệu quả bền vững, doanh nghiệp nội địa phải nâng năng suất và tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị xuất khẩu toàn cầu.
![]() |
| TS. Đinh Thế Hiển, Chủ tịch Hội đồng Chuyên gia FREA-HCM. |
Trong lập luận này, mức tăng trưởng 10% là khả năng được chuyên gia đặt ra, phụ thuộc vào sự vận động của các động lực kinh tế. Điểm ông nhấn mạnh là năng lực doanh nghiệp trong nước phải được nâng lên để duy trì và mở rộng lợi ích từ tăng trưởng.
FDI và đầu tư công có thể hỗ trợ quá trình đó. Hạ tầng thuận lợi giúp giảm thời gian vận chuyển, trong khi liên kết với doanh nghiệp FDI mở ra cơ hội tiếp cận tiêu chuẩn sản xuất, công nghệ và thị trường.
Đóng góp của khu vực FDI còn thể hiện qua việc làm, tiền lương, thuế và giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam. Yêu cầu đặt ra là tăng mức độ gắn kết để doanh nghiệp nội địa có thêm cơ hội phát triển cùng khu vực này.
Tuy nhiên, cơ hội tiếp cận khách hàng chưa đủ bảo đảm một doanh nghiệp trở thành nhà cung cấp lâu dài. Khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, duy trì chất lượng ổn định và giao hàng đúng cam kết mới quyết định tính bền vững của quan hệ hợp tác.
OECD chỉ ra rằng hạn chế về nhân lực, công nghệ và năng lực đổi mới là những trở ngại đối với doanh nghiệp Việt Nam khi cung ứng đầu vào cho khu vực FDI. Vì vậy, hoạt động kết nối cần đi cùng quá trình nâng năng lực sản xuất và quản trị.
Tham gia chuỗi xuất khẩu phải tạo được khả năng tích lũy
Theo TS. Đinh Thế Hiển, nâng năng suất và tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị xuất khẩu toàn cầu sẽ là thách thức lớn đối với doanh nghiệp nội địa trong giai đoạn 2027–2028.
Tham gia hiệu quả cần được nhìn từ cả đơn hàng, lợi nhuận và năng lực phát triển. Một doanh nghiệp tăng doanh thu nhưng phải liên tục giảm giá, kéo dài thời gian thu tiền hoặc phụ thuộc vào một khách hàng vẫn đối diện nhiều rủi ro.
Nếu lợi nhuận và dòng tiền không cải thiện, doanh nghiệp khó tích lũy để đầu tư thiết bị, đào tạo nhân sự và phát triển sản phẩm. Việc mở rộng sản xuất khi đó chưa chắc tạo ra bước tiến về sức cạnh tranh.
Để nâng vị thế, doanh nghiệp cần từng bước đảm nhận những công đoạn có yêu cầu kỹ thuật và giá trị gia tăng cao hơn. Quá trình này đòi hỏi đầu tư có trọng tâm, gắn với nhu cầu thị trường và khả năng đáp ứng thực tế.
Ở cấp doanh nghiệp, mỗi khoản đầu tư công nghệ hoặc đào tạo cần hướng đến kết quả đo được, như giảm chi phí, nâng chất lượng hay tăng giá trị tạo ra trong mỗi giờ làm việc. Đây cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả chuyển đổi số và đổi mới sản xuất.
Về phía chính quyền và tổ chức nghề nghiệp, hỗ trợ cần tập trung vào những điểm nghẽn cụ thể về vốn, nhân lực, tiêu chuẩn kỹ thuật và tiếp cận khách hàng. Chương trình kết nối sẽ thiết thực hơn khi đi kèm đánh giá năng lực, đào tạo và theo dõi kết quả hợp tác.
Thành quả tăng trưởng cần được thể hiện qua khả năng doanh nghiệp tái đầu tư và người lao động cải thiện thu nhập thực tế. Sự đồng hành giữa chính quyền, doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp cần hướng đến kết quả cụ thể: giúp doanh nghiệp Việt tạo được nhiều giá trị hơn, có vị thế vững hơn và đóng góp bền vững hơn cho nền kinh tế.