Mua sắm công có thể trở thành một đầu ra quan trọng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), nhất là những đơn vị còn hạn chế về mạng lưới khách hàng và khả năng tiếp cận các hợp đồng lớn. Khi ngân sách Nhà nước dành một phần nguồn lực để tạo cơ hội cho khu vực doanh nghiệp này tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ, chính sách hỗ trợ không còn dừng ở ưu đãi trên giấy mà có thể tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
![]() |
| Quốc hội thảo luận về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có chính sách ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia mua sắm công. |
Tại phiên thảo luận Quốc hội ngày 29/10 về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, trong gần một năm triển khai chính sách, cả nước có gần 226.000 gói thầu dưới 20 tỷ đồng được dành cho DNNVV, thu hút hơn 12.000 doanh nghiệp tham gia, với tổng giá trị khoảng 126.000 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy quy mô đáng chú ý của thị trường mua sắm công đối với nhóm doanh nghiệp có nguồn lực còn hạn chế. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả chính sách, cần nhìn sâu hơn vào kết quả lựa chọn nhà thầu và giá trị hợp đồng thực tế.
Từ cơ hội dự thầu đến hợp đồng thực tế
Theo định hướng chính sách được Bộ trưởng nêu tại nghị trường Quốc hội, cơ chế mua sắm công dành tối thiểu 20% kinh phí cho DNNVV, đồng thời ưu tiên các gói thầu có giá trị từ 20 tỷ đồng trở xuống. Đây là cách tạo thêm dư địa để doanh nghiệp quy mô nhỏ tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho cơ quan Nhà nước, đơn vị sử dụng ngân sách.
Điểm đáng chú ý là mua sắm công có thể tạo ra thị trường tương đối ổn định nếu doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu về năng lực, chất lượng và tiến độ. Với một doanh nghiệp nhỏ, việc có thêm hợp đồng cung ứng thiết bị, vật tư, hàng hóa hoặc dịch vụ không chỉ mang lại doanh thu mà còn giúp duy trì việc làm, cải thiện dòng tiền và tạo hồ sơ năng lực để tiếp cận khách hàng khác.
Dù vậy, số lượng gói thầu được đưa vào diện ưu tiên không đồng nghĩa với số hợp đồng đã được trao cho DNNVV. Tương tự, tổng giá trị gói thầu cũng không thể mặc nhiên được hiểu là doanh thu mà nhóm doanh nghiệp này đã thu về.
Đây là khác biệt quan trọng khi đánh giá chính sách. Một gói thầu có thể có nhiều nhà thầu tham gia, có thể không lựa chọn được nhà thầu đáp ứng yêu cầu hoặc giá trúng thầu thấp hơn giá gói thầu. Vì vậy, nếu chỉ sử dụng số lượng và tổng giá trị gói thầu để khẳng định hiệu quả, bức tranh về mức độ thụ hưởng của doanh nghiệp sẽ chưa đầy đủ.
Tại phiên thảo luận ngày 29/10, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cũng đề nghị làm rõ cách tính chỉ tiêu mua sắm công, trong đó cần phân biệt giá trị gói thầu dành cho DNNVV với giá trị hợp đồng thực tế được trao. Ý kiến này đặt ra yêu cầu minh bạch hơn về phương pháp thống kê, qua đó giúp cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp có căn cứ đánh giá chính xác hiệu quả chính sách.
Không hạ chuẩn cạnh tranh, nhưng cần giảm rào cản tham gia
Ưu tiên DNNVV không có nghĩa là hạ thấp tiêu chuẩn lựa chọn nhà thầu. Việc sử dụng ngân sách vẫn phải bảo đảm cạnh tranh, công khai, minh bạch, hiệu quả kinh tế và trách nhiệm giải trình. Doanh nghiệp được tạo cơ hội tiếp cận nhưng vẫn phải chứng minh năng lực thực hiện hợp đồng.
Với nhiều DNNVV, thách thức không chỉ nằm ở giá dự thầu. Năng lực chuẩn bị hồ sơ, chứng minh kinh nghiệm, bảo đảm nguồn cung, đáp ứng tiến độ và bố trí vốn lưu động đều có thể trở thành rào cản. Trong khi đó, thời gian thanh toán và yêu cầu bảo đảm thực hiện hợp đồng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền của doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ.
Do vậy, chính sách ưu tiên sẽ phát huy hiệu quả hơn nếu đi cùng việc chuẩn hóa hồ sơ mời thầu, công khai kế hoạch lựa chọn nhà thầu, tạo điều kiện tiếp cận thông tin và hạn chế những yêu cầu không thật sự cần thiết đối với tính chất gói thầu. Cơ quan mời thầu cũng cần thiết kế tiêu chí phù hợp, tránh đặt ra điều kiện kinh nghiệm hoặc năng lực tài chính vượt quá mức cần thiết, vô hình trung loại doanh nghiệp nhỏ khỏi cuộc chơi.
Ở chiều ngược lại, DNNVV cần chủ động nâng chất lượng quản trị, xây dựng hồ sơ năng lực, kiểm soát chất lượng sản phẩm và liên kết với các doanh nghiệp khác khi quy mô hợp đồng vượt quá khả năng riêng lẻ. Cơ hội từ mua sắm công chỉ trở thành lợi thế dài hạn khi doanh nghiệp đủ năng lực thực hiện cam kết, không phụ thuộc vào ưu tiên hành chính.
Cần đo chính sách bằng kết quả thụ hưởng
Một chính sách hỗ trợ thị trường cần được đánh giá bằng kết quả cuối cùng, không chỉ bằng số lượng cơ hội được tạo ra. Với mua sắm công dành cho DNNVV, những chỉ số cần được công khai định kỳ nên bao gồm số doanh nghiệp thực sự trúng thầu, số hợp đồng được ký, giá trị trúng thầu, tỷ lệ hoàn thành hợp đồng và mức độ phân bổ cơ hội giữa các ngành, địa phương.
Việc thống kê cũng cần tách bạch doanh nghiệp tham gia một lần với doanh nghiệp có khả năng duy trì hoạt động cung ứng qua nhiều năm. Nếu một nhóm nhỏ doanh nghiệp liên tục nhận phần lớn hợp đồng, trong khi phần đông DNNVV khó tiếp cận, mục tiêu mở rộng cơ hội cho khu vực doanh nghiệp này sẽ chưa đạt như kỳ vọng.
Đặc biệt, cơ chế ưu tiên phải có biện pháp phòng ngừa tình trạng chia nhỏ gói thầu không đúng quy định, thành lập doanh nghiệp hình thức để hưởng chính sách hoặc lợi dụng tiêu chí DNNVV nhằm né tránh cạnh tranh. Đây cũng là những vấn đề cần được tính đến khi thiết kế quy định chi tiết, bảo đảm ưu đãi đến đúng đối tượng và không làm suy giảm hiệu quả sử dụng ngân sách.
Mua sắm công có thể là một kênh mở rộng thị trường đáng kể cho DNNVV. Nhưng giá trị thực của chính sách không nằm ở số gói thầu được thống kê, mà ở số doanh nghiệp có thể tiếp cận công bằng, cạnh tranh lành mạnh và chuyển cơ hội dự thầu thành hợp đồng, doanh thu và năng lực phát triển bền vững.