Nghị định 169/2026/NĐ-CP tạo ra sự phân biệt đáng chú ý giữa người nộp thuế chủ động phát hiện, khai bổ sung sai sót và trường hợp vi phạm bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện. Với cùng một khoản thuế khai thiếu, thời điểm xử lý và bản chất hành vi có thể làm thay đổi đáng kể trách nhiệm pháp lý. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây không đơn thuần là câu chuyện tránh tiền phạt, mà là bài toán bảo vệ dòng tiền và khả năng tồn tại trước những nghĩa vụ tài chính bất ngờ.
Sáu mươi ngày khai bổ sung: Cơ hội pháp lý không dành cho sự trì hoãn
Điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định 169 quy định những trường hợp người nộp thuế khai sai theo Điều 10 nhưng đã chủ động khai bổ sung, đáp ứng điều kiện về thời điểm và thủ tục, thì không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với hàng đã thông quan, một trường hợp đáng chú ý là khai bổ sung trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan và trước thời điểm có quyết định thanh tra, kiểm tra tương ứng.
Đối với báo cáo quyết toán, quy định cũng đặt ra thời hạn 60 ngày kể từ ngày nộp báo cáo cùng điều kiện phải thực hiện trước quyết định kiểm tra liên quan.
Tuy nhiên, không thể coi 60 ngày là “thời gian miễn phạt” chung cho mọi vi phạm. Việc không xử phạt chỉ áp dụng khi đáp ứng đầy đủ điều kiện của trường hợp tương ứng.
Chính sách khuyến khích doanh nghiệp tự phát hiện và khắc phục sai sót, thay vì chờ cơ quan chức năng chỉ ra vi phạm.
Nhưng vấn đề nằm ở năng lực phát hiện.
Doanh nghiệp chỉ kiểm tra hồ sơ vào cuối năm có thể bỏ lỡ cơ hội xử lý sớm. Bộ phận hải quan chỉ nhìn tờ khai mà không đối chiếu dữ liệu kế toán, hợp đồng và thanh toán cũng khó nhận biết sai lệch trị giá hoặc nghĩa vụ thuế.
Vì vậy, cần xây dựng quy trình rà soát sau thông quan theo từng lô hàng, ưu tiên nhóm có rủi ro về mã HS, trị giá, thuế suất và miễn giảm thuế.
![]() |
| Nghị định 169/2026/NĐ-CP Khai sai thuế hải quan: Chậm sửa một bước, doanh nghiệp có thể trả giá gấp nhiều lần |
Mức phạt 10%, 20% hay cao hơn: Bản chất vi phạm quyết định hậu quả
Khoản 1 Điều 10 Nghị định 169 liệt kê các hành vi khai sai làm thiếu tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu.
Khoản 2 Điều 10 quy định mức phạt bằng 10% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế khai tăng không đúng trong những trường hợp người nộp thuế tự phát hiện, khai bổ sung theo điều kiện xác định.
Khoản 3 Điều 10 quy định mức 20% đối với các trường hợp tương ứng, trong đó có hành vi bị phát hiện khi làm thủ tục, kiểm tra sau thông quan, thanh tra hoặc kiểm toán.
Điểm đáng chú ý là cơ chế này không đặt toàn bộ trách nhiệm lên con số thuế thiếu, mà còn gắn với thời điểm phát hiện, khắc phục và tính chất hành vi.
Khoản 6 Điều 10 xác định ngưỡng chênh lệch thuế để áp dụng các khoản 1, 2 và 3 là từ 500.000 đồng trên mỗi tờ khai đối với vi phạm do cá nhân thực hiện, từ 2 triệu đồng đối với tổ chức.
Với hộ kinh doanh, đây là khác biệt phải kiểm tra trước khi xác định chế tài.
Theo điểm c khoản 3 Điều 6, tỷ lệ phạt tại Điều 10 áp dụng cho cả cá nhân và tổ chức, không tự động giảm còn một nửa như nguyên tắc chung đối với một số khung phạt khác.
Đặc biệt, khoản 7 Điều 10 dẫn chiếu Điều 15 khi hành vi có bản chất trốn thuế.
Theo khoản 2 Điều 15, đối với hành vi trốn thuế thuộc phạm vi xử phạt hành chính, mức phạt là một lần số tiền thuế trốn khi không có tình tiết tăng nặng; mỗi tình tiết tăng nặng có thể làm tăng thêm 0,2 lần, nhưng không quá ba lần số tiền thuế trốn.
Do đó, doanh nghiệp không thể đánh đồng khai sai thuế với trốn thuế, nhưng càng không thể xem nhẹ dấu hiệu làm thay đổi bản chất vi phạm.
Hết thời hiệu phạt không có nghĩa hết nghĩa vụ nộp thuế
Khoản 5 Điều 10 quy định biện pháp buộc nộp đủ tiền thuế thiếu hoặc khoản thuế đã được miễn, giảm, hoàn, không thu không đúng.
Điều đó có nghĩa số tiền phạt không thay thế nghĩa vụ thuế gốc.
Điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định 169 quy định thời hiệu xử phạt năm năm đối với hành vi khai sai thuế, trốn thuế thuộc phạm vi điều chỉnh.
Đáng lưu ý, điểm b khoản 1 Điều 5 quy định ngay cả khi quá thời hiệu xử phạt, người nộp thuế vẫn phải nộp các khoản thuế liên quan và tiền chậm nộp trong thời hạn mười năm trở về trước kể từ ngày phát hiện vi phạm theo điều kiện được quy định.
Một lô hàng đã bán hết, hợp đồng đã thanh lý và lợi nhuận đã phân phối không đồng nghĩa mọi rủi ro thuế đều đã chấm dứt.
Với doanh nghiệp nhỏ, việc phải thực hiện nghĩa vụ tài chính phát sinh từ nhiều năm trước có thể gây sức ép lớn lên vốn lưu động.
Giải pháp cần thiết là lưu trữ chứng từ dài hạn, rà soát hồ sơ sau thông quan và dự phòng tài chính đối với các khoản nghĩa vụ còn chưa được làm rõ.
Quyền tự sửa sai có giá trị khi doanh nghiệp phát hiện đủ sớm
Nghị định 169 phân định rõ các trường hợp được không xử phạt, hành vi khai sai thuế bị phạt theo tỷ lệ và hành vi có bản chất trốn thuế.
Doanh nghiệp, hộ kinh doanh cần nắm đúng thời điểm khai bổ sung, ngưỡng áp dụng và trách nhiệm nộp đủ nghĩa vụ tài chính.
Một sai sót thuế có thể được phát hiện bằng nghiệp vụ kế toán. Nhưng nếu không được xử lý đúng thời điểm, nó có thể chuyển thành rủi ro tài chính kéo dài nhiều năm, đủ sức làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh.
| Đón đọc kỳ 3: Nghị định 169/2026/NĐ-CP Hàng nằm trong kho, rủi ro chưa nằm yên: Ai chịu trách nhiệm khi chuỗi logistics sai luật? |
