Từ ngày 1/1/2028, đánh giá mức độ tín nhiệm thương nhân xuất khẩu gạo theo Thông tư 65/2026/TT-BCT sẽ được triển khai. Cơ chế này hướng đến lượng hóa năng lực và trách nhiệm kinh doanh, đồng thời gắn kết quả đánh giá với việc phân bổ chỉ tiêu hợp đồng tập trung. Nhưng khi sản lượng xuất khẩu, độ rộng thị trường và mức dự trữ lưu thông đều tác động đến điểm số, liệu doanh nghiệp nhỏ có đủ dư địa vươn lên trong cuộc cạnh tranh mới?
Thang điểm tín nhiệm: Đánh giá năng lực hay củng cố lợi thế quy mô?
Khoản 1 Điều 13 Thông tư 65 quy định điểm tín nhiệm nằm trong khoảng từ 0 đến 100. Theo khoản 2 Điều 13, điểm chung được xác định bằng bình quân điểm các tiêu chí thành phần quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 365/2026/NĐ-CP.
Điều 15 Thông tư 65 hướng dẫn tiêu chí kết quả hoạt động xuất khẩu, gồm hai thành phần: thành tích xuất khẩu và phát triển thị trường, mỗi thành phần tối đa 50 điểm.
Theo điểm a khoản 1 Điều 15, mười thương nhân có thành tích xuất khẩu đứng đầu được tính từ 41 đến 50 điểm về sản lượng.
Những thương nhân xuất khẩu trên 100.000 tấn nhưng không thuộc nhóm dẫn đầu được 40 điểm; trên 50.000 tấn được 30 điểm; trên 10.000 tấn được 20 điểm; từ 10.000 tấn trở xuống được 10 điểm, theo các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều 15.
Khoản 2 Điều 15 tiếp tục đánh giá độ rộng thị trường: xuất khẩu sang đủ ba nhóm thị trường được 50 điểm, hai nhóm được 30 điểm và một nhóm được 10 điểm.
Những tiêu chí này phản ánh năng lực hoạt động, nhưng đồng thời có thể tạo lợi thế ban đầu cho doanh nghiệp quy mô lớn.
Một doanh nghiệp chuyên xuất khẩu gạo chất lượng cao sang một thị trường ổn định có thể hoạt động hiệu quả, song khó đạt điểm cao về sản lượng và đa dạng thị trường.
Đây là vấn đề cần tiếp tục đánh giá khi triển khai thực tế, không phải căn cứ để khẳng định toàn bộ hệ thống tín nhiệm thiếu công bằng. Điểm chung còn phụ thuộc nhiều tiêu chí khác theo Điều 14 Nghị định 365.
![]() |
| Thông tư 65/2026/TT-BCT Chấm điểm tín nhiệm xuất khẩu gạo: Khi doanh nghiệp lớn có lợi thế, ai mở đường cho doanh nghiệp nhỏ? |
Dự trữ càng cao, điểm càng lớn: Doanh nghiệp nhỏ lấy vốn ở đâu?
Điều 12 Nghị định 365 yêu cầu thương nhân xuất khẩu gạo duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 5% lượng gạo đã xuất khẩu trong sáu tháng trước đó.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 16 Thông tư 65 quy định cách chấm điểm dự trữ theo những ngưỡng cao hơn.
Theo điểm đ khoản 2 Điều 16, dự trữ từ 5% đến dưới 10% được 8 điểm. Từ 10% đến dưới 15% được 16 điểm; từ 15% đến dưới 20% được 24 điểm; từ 20% đến 25% được 32 điểm.
Đặc biệt, dự trữ trên 25% được 40 điểm theo điểm a khoản 2 Điều 16.
Như vậy, đạt mức dự trữ tối thiểu theo luật không đồng nghĩa đạt điểm tín nhiệm tối đa.
Sự khác biệt này có ý nghĩa kinh tế đáng kể.
Để nâng điểm dự trữ, doanh nghiệp phải cân nhắc việc duy trì lượng hàng cao hơn, kéo theo nhu cầu vốn, chi phí kho bãi, bảo quản và rủi ro biến động giá.
Doanh nghiệp có nguồn tài chính mạnh thường thuận lợi hơn trong việc giữ hàng. Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ có thể phải đánh đổi tính thanh khoản để cải thiện điểm số.
Điểm cần khuyến nghị không phải tăng dự trữ bằng mọi giá, mà là xây dựng phương án phù hợp với năng lực tài chính, thị trường tiêu thụ và lợi ích dự kiến từ cơ hội hợp đồng tập trung.
Điểm tín nhiệm sẽ ảnh hưởng đến chỉ tiêu xuất khẩu thế nào?
Khoản 2 Điều 8 Thông tư 65 quy định chỉ tiêu hợp đồng tập trung được phân bổ theo mức độ tín nhiệm; thương nhân trong cùng một nhóm tín nhiệm được phân bổ bằng nhau.
Khoản 5 Điều 8 thiết lập giới hạn theo từng nhóm tín nhiệm.
Theo điểm b khoản 5 Điều 8, thương nhân thuộc nhóm tín nhiệm cao được phân bổ không lớn hơn 50% chỉ tiêu của thương nhân nhóm rất cao.
Các điểm c, d và đ cùng khoản quy định những tỷ lệ giới hạn tương ứng đối với các nhóm tín nhiệm trung bình, thấp và rất thấp.
Như vậy, điểm tín nhiệm không chỉ phục vụ công bố thông tin. Nó có thể tác động trực tiếp đến cơ hội tiếp cận chỉ tiêu xuất khẩu của doanh nghiệp.
Theo Điều 14 Thông tư 65, trong năm ngày làm việc kể từ khi hoàn thành đánh giá, Bộ Công Thương đăng tải danh sách thương nhân theo mức độ tín nhiệm trên Cổng thông tin của Bộ.
Tuy nhiên, khoản 3 Điều 18 quy định cơ chế này bắt đầu từ ngày 1/1/2028. Trong giai đoạn chưa thực hiện đánh giá, khoản 4 Điều 18 xác định chỉ tiêu được phân bổ bằng nhau cho các thương nhân đăng ký và đáp ứng điều kiện.
Đây là khoảng thời gian doanh nghiệp nhỏ cần tận dụng để củng cố năng lực quản trị, nâng chất lượng báo cáo, phát triển thị trường và cải thiện chuỗi liên kết nguyên liệu.
Đối với hộ kinh doanh thu mua, xay xát, cung cấp lúa gạo trong nước, chính sách tín nhiệm không đồng nghĩa mọi hộ đều trực tiếp bị chấm điểm. Nhưng yêu cầu về nguồn hàng ổn định, chứng từ và chất lượng của doanh nghiệp xuất khẩu có thể trở nên khắt khe hơn.
Tín nhiệm cần trở thành động lực, không phải rào cản gia nhập
Thông tư 65 thiết lập cơ chế đánh giá tín nhiệm bằng các tiêu chí có thể lượng hóa và liên hệ kết quả với cơ hội phân bổ hợp đồng tập trung.
Doanh nghiệp xuất khẩu phải chuẩn bị năng lực từ trước năm 2028; hộ kinh doanh cần nâng chất lượng liên kết và chứng từ cung ứng.
Một cơ chế tín nhiệm hiệu quả không chỉ khuyến khích những thương nhân đã mạnh tiếp tục phát triển. Giá trị chính sách còn nằm ở khả năng tạo động lực để doanh nghiệp nhỏ nâng chuẩn quản trị, tích lũy năng lực và từng bước vươn lên trong thị trường xuất khẩu gạo.
