| Nghị định 374/2026/NĐ-CP: Mở cửa đấu thầu theo FTA, doanh nghiệp Việt có thêm thị trường hay thêm đối thủ? |
Một cuộc đấu thầu có nhiều doanh nghiệp tham gia chưa chắc đã bảo đảm cạnh tranh công bằng. Những tiêu chí tưởng như thuần túy kỹ thuật, yêu cầu về kinh nghiệm hay xuất xứ hàng hóa có thể vô tình, thậm chí có chủ đích, thu hẹp cơ hội của nhà thầu. Nghị định số 374/2026/NĐ-CP đặt ra những giới hạn pháp lý đáng chú ý, đồng thời buộc doanh nghiệp phải chuyên nghiệp hơn trong việc nhận diện và bảo vệ quyền lợi khi tham dự thầu.
![]() |
| Nghị định 374/2026/NĐ-CP: Đấu thầu theo FTA, Khi rào cản cạnh tranh có thể ẩn ngay trong hồ sơ mời thầu |
Một tiêu chí thiếu căn cứ có thể loại nhà thầu ngay từ đầu
Trong đấu thầu, bất bình đẳng không nhất thiết bắt đầu ở quyết định phê duyệt kết quả. Nó có thể xuất hiện ngay từ hồ sơ mời thầu.
Khoản 1 Điều 15 Nghị định 374 quy định hồ sơ mời thầu không được đưa ra điều kiện hạn chế sự tham gia hoặc tạo lợi thế cho một hay một số nhà thầu, gây cạnh tranh không bình đẳng.
Đặc biệt, quy định không cho phép sử dụng kinh nghiệm từng ký kết hợp đồng với cơ quan mua sắm của một quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể hoặc kinh nghiệm cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên lãnh thổ đó làm tiêu chí loại bỏ nhà thầu.
Đây là nội dung có ý nghĩa đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi không ít doanh nghiệp có năng lực sản xuất, cung ứng nhưng thiếu lịch sử thực hiện hợp đồng ở những thị trường cụ thể.
Khoản 3 Điều 15 còn giới hạn việc yêu cầu xuất xứ hoặc nêu nhãn hiệu hàng hóa. Trong trường hợp được dùng nhãn hiệu, catalô để minh họa yêu cầu kỹ thuật, hồ sơ phải kèm cụm từ “hoặc tương đương” và làm rõ nội hàm tương đương.
Quy định này góp phần hạn chế nguy cơ sử dụng một thương hiệu làm chuẩn duy nhất, khiến sản phẩm của doanh nghiệp khác bị loại dù đáp ứng yêu cầu thực tế.
Tuy nhiên, không thể đánh đồng mọi tiêu chuẩn kỹ thuật cao với hành vi hạn chế cạnh tranh.
Vấn đề cần xem xét là tiêu chuẩn đó có cần thiết cho mục tiêu mua sắm, có căn cứ hợp pháp và được áp dụng bình đẳng hay không.
Với doanh nghiệp, việc nghiên cứu hồ sơ mời thầu phải được coi là hoạt động kiểm soát rủi ro pháp lý. Khi phát hiện tiêu chí bất hợp lý, cần chủ động yêu cầu làm rõ hoặc thực hiện quyền kiến nghị theo Luật Đấu thầu.
Đấu thầu nội khối không có nghĩa mọi nhà thầu nước ngoài đều được tham gia
Khoản 1 Điều 4 cho phép cơ quan mua sắm lựa chọn đấu thầu nội khối hoặc đấu thầu quốc tế.
Tuy nhiên, các khoản 2, 3 và 4 Điều 4 phân định phạm vi nhà thầu được tham dự theo loại gói thầu và từng Phụ lục.
Đáng chú ý, điểm c khoản 2 Điều 4 cho phép một số gói thầu dịch vụ thuộc mã CPC 75231, CPC 75232 và CPC 84 được xác định phạm vi nhà thầu tham dự theo cơ chế riêng, bao gồm trường hợp chỉ nhà thầu trong nước tham gia.
Vì vậy, doanh nghiệp không nên mặc nhiên cho rằng mọi gói thầu thực hiện cam kết FTA đều mở cửa như nhau.
Một khác biệt khác nằm ở ngôn ngữ và phương thức đấu thầu.
Khoản 1 Điều 8 quy định đấu thầu nội khối sử dụng tiếng Việt. Đối với đấu thầu quốc tế, khoản 2 Điều 8 cho phép sử dụng tiếng Anh hoặc tiếng Việt và tiếng Anh.
Theo khoản 1 Điều 14 và khoản 4 Điều 18, việc lựa chọn nhà thầu nội khối trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia bắt đầu từ ngày 1/3/2027, theo quy định và các trường hợp ngoại lệ được dẫn chiếu.
Trong khi đó, khoản 2 Điều 14 quy định đấu thầu quốc tế thực hiện không qua mạng.
Những khác biệt này có thể tác động đáng kể đến doanh nghiệp nhỏ: từ bố trí nhân sự, chi phí dịch thuật, chuẩn bị hồ sơ đến quản lý thời hạn.
Một doanh nghiệp có phương án kỹ thuật cạnh tranh vẫn có thể đánh mất cơ hội nếu xác định sai điều kiện tham dự hoặc không tuân thủ quy trình lựa chọn nhà thầu.
Rủi ro pháp lý không chỉ thuộc về bên mời thầu
Điều 9 Nghị định 374 quy định thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu thông thường là 30 ngày, giảm xuống 25 ngày nếu tiếp nhận hồ sơ dự thầu qua mạng.
Khoản 3 Điều 9 cho phép thời gian tối thiểu 10 ngày trong những trường hợp cụ thể, gồm tình huống khẩn cấp hoặc một số gói thầu hàng hóa, dịch vụ phi tư vấn thông dụng đáp ứng điều kiện.
Đây là những mốc cần được cơ quan mua sắm tuân thủ và nhà thầu kiểm soát.
Đáng chú ý, điểm a khoản 1 Điều 6 yêu cầu nhà thầu là tổ chức không đang trong thời gian bị cấm tham dự thầu theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền tại bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào.
Quy định này đặt ra yêu cầu thẩm định tư cách pháp lý, đặc biệt khi doanh nghiệp Việt liên danh với đối tác nước ngoài.
Không thể chỉ đánh giá đối tác qua doanh thu, kinh nghiệm hay hồ sơ năng lực. Tình trạng bị cấm dự thầu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tư cách tham gia của đối tác.
Khoản 4 Điều 6 cho phép tham dự độc lập hoặc liên danh, nhưng không miễn trách nhiệm đáp ứng các điều kiện hợp lệ và nghĩa vụ của từng gói thầu.
Đối với hộ kinh doanh, rủi ro còn nằm ở sự chênh lệch giữa quy mô hoạt động và giá trị hợp đồng. Trước khi dự thầu, cần đánh giá khả năng cung ứng, nguồn vốn, nhân lực và những trách nhiệm có thể phát sinh khi không thực hiện đúng cam kết.
Cạnh tranh công bằng phải được thiết kế từ trước khi mở thầu
Nghị định 374 tạo cơ sở pháp lý quan trọng để kiểm soát những điều kiện mời thầu có nguy cơ hạn chế cạnh tranh.
Tuy nhiên, tính minh bạch không chỉ là trách nhiệm của cơ quan mua sắm. Doanh nghiệp phải chủ động hiểu quy định, thẩm định đối tác và bảo vệ quyền lợi bằng các cơ chế pháp luật cho phép.
Cạnh tranh bình đẳng không đơn thuần là mọi nhà thầu được nộp hồ sơ, mà là những nhà thầu đủ điều kiện không bị loại bởi các rào cản thiếu căn cứ pháp lý.
| Đón đọc kỳ 3: Nghị định 374/2026/NĐ-CP: Ưu đãi đấu thầu sẽ thu hẹp, Doanh nghiệp Việt còn bao lâu để tự đứng vững? |
