Nghị định 374/2026/NĐ-CP thiết lập một lộ trình thu hẹp các biện pháp ưu đãi trong nước đối với những gói thầu thuộc cam kết CPTPP, EVFTA và UKVFTA. Đây không chỉ là thay đổi trong kỹ thuật lựa chọn nhà thầu, mà còn là lời cảnh báo về chiến lược cạnh tranh dài hạn: lợi thế chính sách có thời hạn, trong khi năng lực công nghệ, chất lượng sản phẩm và khả năng thực hiện hợp đồng phải được xây dựng từ chính doanh nghiệp.
Ưu đãi 40%, 30%: Đừng nhầm chính sách bảo vệ với đặc quyền của nhà thầu
Điều 10 Nghị định 374 quy định các biện pháp ưu đãi trong nước và lộ trình áp dụng đối với những gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh.
Theo các điểm a, b, c khoản 1 Điều 10, cơ quan mua sắm có thể áp dụng những biện pháp như yêu cầu cung cấp hàng hóa xuất xứ trong nước đáp ứng điều kiện; yêu cầu nhà thầu nước ngoài liên danh hoặc sử dụng nhà thầu phụ trong nước; chuyển giao công nghệ, hỗ trợ nghiên cứu phát triển.
Điểm đ khoản 1 Điều 10 còn quy định việc ưu tiên nhà thầu Việt Nam trong trường hợp nhà thầu Việt Nam và nước ngoài được đánh giá tốt nhất, ngang nhau.
Tuy nhiên, điểm cần đặc biệt lưu ý là các tỷ lệ ưu đãi 40% và 30%.
Theo khoản 2 Điều 10, đối với các gói thầu thuộc Phụ lục I và Phụ lục III, tổng giá trị ưu đãi trong nước trong một năm không vượt quá 40% tổng giá hợp đồng các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh đến hết ngày 13/1/2029.
Từ ngày 14/1/2029 đến hết ngày 31/7/2038, giới hạn giảm xuống 30%; từ ngày 1/8/2038 không được áp dụng biện pháp ưu đãi trong nước đối với nhóm gói thầu này.
Đối với gói thầu thuộc Phụ lục II, khoản 3 Điều 10 quy định mức giới hạn 40% đến hết ngày 13/1/2029, tiếp đó là 30% đến hết ngày 13/1/2044 và chấm dứt áp dụng từ ngày 14/1/2044.
Cần nhấn mạnh: đây là giới hạn tổng giá trị ưu đãi theo năm, không phải mức giảm giá hay tỷ lệ cộng điểm đương nhiên cho từng doanh nghiệp.
Lộ trình này tạo khoảng thời gian chuyển tiếp, nhưng không đồng nghĩa doanh nghiệp được bảo đảm hưởng ưu đãi cho đến thời điểm kết thúc.
![]() |
| Nghị định 374/2026/NĐ-CP: Ưu đãi đấu thầu sẽ thu hẹp, Doanh nghiệp Việt còn bao lâu để tự đứng vững? |
Liên danh quốc tế: Cơ hội học hỏi hay nguy cơ mắc kẹt ở phần việc giá trị thấp?
Điểm b khoản 1 Điều 10 cho phép áp dụng biện pháp yêu cầu nhà thầu nước ngoài liên danh với nhà thầu trong nước hoặc sử dụng nhà thầu phụ trong nước theo điều kiện pháp luật quy định.
Điểm c cùng khoản đề cập chuyển giao công nghệ và hỗ trợ nghiên cứu phát triển.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây có thể là cơ hội tham gia những dự án lớn mà trước đây khó đủ năng lực thực hiện độc lập.
Nhưng điều đáng bàn là chất lượng tham gia.
Nếu chỉ đảm nhận những công việc đơn giản, ít hàm lượng công nghệ và không có cơ hội phát triển năng lực, doanh nghiệp Việt có thể tham gia được hợp đồng mà không cải thiện đáng kể sức cạnh tranh.
Ngược lại, nếu đàm phán được phạm vi công việc rõ ràng, cơ chế chuyển giao kiến thức, trách nhiệm kỹ thuật và quyền lợi tương xứng, liên danh có thể trở thành con đường nâng cấp năng lực.
Một nội dung khác cần chú ý nằm ở Điều 11.
Theo điểm a khoản 2 Điều 11, đối với gói thầu hàng hóa, điều kiện chi phí sản xuất tại các nước thành viên chiếm từ 50% trở lên là một trong những cơ sở để được hưởng ưu đãi nội khối khi đấu thầu quốc tế, nếu cơ quan mua sắm quyết định áp dụng.
Điểm b khoản 2 Điều 11 quy định điều kiện đối với nhà thầu nội khối trong gói thầu dịch vụ, xây dựng, hỗn hợp. Điểm b khoản 3 Điều 11 xác định điều kiện tổng chi phí từ các nước thành viên đối với gói thầu hỗn hợp.
Vì vậy, doanh nghiệp không nên nhầm xuất xứ hàng hóa với quốc tịch nhà thầu, hoặc cho rằng cứ liên danh với đối tác nước ngoài là đương nhiên đủ điều kiện hưởng ưu đãi.
Khi vùng đệm thu hẹp, doanh nghiệp phải chuyển từ tư duy được bảo vệ sang năng lực cạnh tranh
Lộ trình tại Điều 10 cho thấy ưu đãi trong nước là công cụ có thời hạn, không phải cơ sở kinh doanh lâu dài.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, giai đoạn chuyển tiếp cần được sử dụng để nâng chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm soát giá thành và năng lực giao hàng.
Với doanh nghiệp dịch vụ, trọng tâm là đội ngũ nhân sự, quản lý chất lượng, khả năng chứng minh kinh nghiệm và tổ chức thực hiện hợp đồng.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa nên chủ động xây dựng lịch sử thực hiện hợp đồng, tìm kiếm liên danh phù hợp và đầu tư vào những lĩnh vực có lợi thế chuyên môn.
Đối với hộ kinh doanh, quyền tham dự thầu theo khoản 2 Điều 6 không xóa bỏ những giới hạn về nguồn lực. Việc tham gia cần dựa vào khả năng tài chính, năng lực cung ứng và mức độ rủi ro có thể chấp nhận.
Ở góc độ quản lý, yêu cầu đặt ra là triển khai ưu đãi đúng phạm vi và thời hạn, đồng thời không sử dụng tiêu chí kỹ thuật hay xuất xứ để tạo ra sự bảo hộ trái quy định.
Khoản 1 Điều 15 đã xác lập giới hạn đối với những yêu cầu gây hạn chế cạnh tranh, trong khi Điều 5 đặt ra nguyên tắc đối xử quốc gia và không phân biệt đối xử, trừ trường hợp được phép ưu đãi.
Đây là hai yêu cầu cần được thực hiện đồng thời, tránh tình trạng hỗ trợ doanh nghiệp trong nước bằng những biện pháp làm méo mó cạnh tranh.
Lợi thế chính sách có thể mất đi, năng lực cạnh tranh phải ở lại
Lộ trình thu hẹp ưu đãi theo Nghị định 374 là tín hiệu để doanh nghiệp Việt chuẩn bị sớm cho thị trường mua sắm công có mức độ cạnh tranh cao hơn.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tận dụng cơ hội liên danh, nâng cấp công nghệ và chất lượng quản trị. Hộ kinh doanh cần lựa chọn những gói thầu phù hợp, tránh mở rộng vượt năng lực thực hiện.
Một nền kinh tế không thể hội nhập bền vững bằng những ưu đãi kéo dài vô hạn. Và doanh nghiệp Việt chỉ thực sự trưởng thành khi có thể cạnh tranh bằng năng lực của mình, ngay cả khi lợi thế chính sách không còn.
