| Thông tư 152/2026/TT-BTC: Phí cấp phép an ninh mạng 8 triệu đồng, doanh nghiệp nhỏ cần lưu ý gì? Thông tư 152/2026/TT-BTC: Phí an ninh mạng từ 100.000 đồng, doanh nghiệp cần lưu ý gì? |
Một hồ sơ được nộp trước khi chính sách mới có hiệu lực không đồng nghĩa với việc đương nhiên áp dụng mức phí cũ. Quy định chuyển tiếp tại Thông tư 152/2026/TT-BTC đặt ra yêu cầu rà soát nghĩa vụ tài chính đối với doanh nghiệp đang thực hiện thủ tục trong lĩnh vực an ninh mạng. Câu chuyện đáng quan tâm không chỉ là cách thu, nộp phí, mà còn là khả năng dự báo chính sách, kiểm soát chứng từ và trách nhiệm hướng dẫn của cơ quan quản lý.
Hồ sơ cũ, phí mới: Quy định chuyển tiếp tác động thế nào đến doanh nghiệp?
Theo khoản 1 Điều 6 Thông tư 152/2026/TT-BTC, văn bản có hiệu lực từ ngày 09/10/2026, cũng là ngày ban hành.
Khoản 2 Điều 6 xác định Thông tư 269/2016/TT-BTC về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí thuộc lĩnh vực an toàn thông tin hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư 152 có hiệu lực.
Điểm đáng chú ý nhất nằm tại khoản 3 Điều 6.
Quy định này xác định: Hồ sơ đề nghị thẩm định cấp giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng; thẩm định, chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy; cấp giấy phép nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng; cấp giấy chứng nhận tên định danh người gửi quảng cáo trên mạng đã nộp trước ngày Thông tư có hiệu lực nhưng chưa nộp phí, lệ phí thì thực hiện thu theo Thông tư 152.
Như vậy, mốc thời gian nộp hồ sơ không phải căn cứ duy nhất để xác định mức thu.
Đối với doanh nghiệp, việc hồ sơ đã được tiếp nhận trước ngày 09/10/2026 không bảo đảm khoản phí phát sinh sau đó vẫn được tính theo quy định cũ nếu thuộc trường hợp chuyển tiếp nêu trên.
Ngược lại, khoản 3 Điều 6 không đặt ra nghĩa vụ tính lại mọi khoản phí, lệ phí đã nộp hợp lệ trước thời điểm Thông tư có hiệu lực.
Đây là điểm cần phân định rõ để tránh phát sinh yêu cầu thu không có căn cứ hoặc tranh chấp về nghĩa vụ tài chính.
Dưới góc độ chính sách, quy định chuyển tiếp có tác dụng xác định thống nhất mức thu đối với hồ sơ đang giải quyết. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi phụ thuộc vào việc thông báo kịp thời, công khai căn cứ thu và xác định chính xác tình trạng thanh toán.
Với doanh nghiệp nhỏ, sự chậm trễ hoặc thiếu rõ ràng trong thông tin có thể ảnh hưởng đến kế hoạch chi phí và tiến độ triển khai hoạt động.
![]() |
| Thông tư 152/2026/TT-BTC: Hồ sơ nộp trước vẫn có thể áp dụng phí mới, doanh nghiệp cần lưu ý gì? |
Nộp 100% vào ngân sách: Minh bạch nguồn thu không được biến thành gánh nặng mới
Khoản 1 Điều 5 Thông tư 152 quy định người nộp phí, lệ phí thực hiện nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo hình thức được xác định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 362/2025/NĐ-CP.
Theo khoản 2 Điều 5, tổ chức thu phí, lệ phí phải nộp 100% số tiền thu được vào ngân sách nhà nước, bao gồm cả tiền lãi phát sinh trên số dư tài khoản liên quan nếu có.
Kinh phí phục vụ hoạt động cung cấp dịch vụ và tổ chức thu được ngân sách bố trí trong dự toán theo chế độ, định mức hiện hành.
Về bản chất, đây là cơ chế quản lý nguồn thu của cơ quan có thẩm quyền, không phải quy định buộc doanh nghiệp trả thêm 100% ngoài mức phí đã niêm yết.
Từ góc nhìn quản trị tài chính công, việc tập trung nguồn thu vào ngân sách tạo cơ sở kiểm soát và đối chiếu dòng tiền.
Tuy nhiên, minh bạch nguồn thu mới chỉ là một phần của chất lượng thực thi chính sách. Điều doanh nghiệp quan tâm còn là thông tin về mức thu, chứng từ thanh toán, tình trạng hồ sơ và khả năng được giải đáp khi phát sinh vướng mắc.
Nếu quy định tài chính rõ ràng nhưng thủ tục thực hiện thiếu thống nhất, chi phí tuân thủ vẫn có thể gia tăng.
Vì vậy, doanh nghiệp cần kiểm tra đúng tổ chức thu theo Điều 3 Thông tư 152, lưu giữ chứng từ và đối chiếu mức tiền theo đúng loại thủ tục quy định tại Điều 4 cùng Biểu mức thu.
Doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh cần quản trị nghĩa vụ như thế nào?
Khoản 4 Điều 6 Thông tư 152 dẫn chiếu những quy định liên quan đến khai, thu, nộp và công khai chế độ phí, lệ phí tại Luật Phí và lệ phí, Luật Quản lý thuế và các nghị định hướng dẫn có liên quan.
Khoản 5 Điều 6 tiếp tục xác định việc áp dụng văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế khi những văn bản được viện dẫn có thay đổi.
Điều đó cho thấy một biểu phí không thể thay thế việc kiểm tra toàn bộ căn cứ pháp lý của thủ tục.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, cần rà soát loại hình hoạt động, điều kiện cấp phép và hồ sơ đã thực hiện.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, cần làm rõ danh mục sản phẩm, yêu cầu giấy phép và nghĩa vụ phát sinh trước khi ký kết hoặc thực hiện hợp đồng thương mại.
Đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh có hoạt động quảng cáo trên mạng, cần xác định việc sử dụng tên định danh có thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục hay không.
Một biện pháp thiết thực là lập bảng theo dõi hồ sơ gồm ngày nộp, loại thủ tục, mức phí, chứng từ thanh toán, tình trạng giải quyết và văn bản pháp lý đang áp dụng.
Đây là công cụ quản trị đơn giản nhưng có thể giúp doanh nghiệp nhỏ kiểm soát tốt hơn những nghĩa vụ phát sinh trong quá trình hoạt động.
Đáng lưu ý, Thông tư 152 không quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, không thể tự suy ra một mức phạt cụ thể từ việc chậm nộp phí hoặc chưa hoàn tất thủ tục chỉ dựa trên văn bản này.
Cải cách phí phải đi cùng khả năng dự báo của doanh nghiệp
Thông tư 152/2026/TT-BTC góp phần thiết lập cơ chế thu, nộp phí, lệ phí và xử lý hồ sơ chuyển tiếp trong lĩnh vực an ninh mạng.
Tuy nhiên, một chính sách tài chính chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi doanh nghiệp có khả năng nhận diện đúng nghĩa vụ, dự báo được chi phí và tiếp cận hướng dẫn thống nhất.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, chủ động kiểm tra căn cứ pháp lý, lưu giữ chứng từ và quản lý hồ sơ là những biện pháp thiết thực để hạn chế rủi ro.
Về phía cơ quan quản lý, công khai đầy đủ mức thu, phân định rõ trách nhiệm và giải quyết kịp thời vướng mắc cần trở thành những yêu cầu xuyên suốt.
Bởi trong môi trường kinh tế số, chi phí tuân thủ không chỉ là khoản tiền doanh nghiệp phải nộp, mà còn là thời gian, cơ hội kinh doanh và khả năng tiếp cận thị trường một cách minh bạch, công bằng.
