Biển không chỉ mở ra không gian phát triển, mà còn đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với cách một quốc gia khai thác và sử dụng nguồn lực của mình. Trong nhiều thập niên, năng lực cảng biển thường được nhìn qua quy mô hạ tầng, sản lượng hàng hóa và khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn. Nhưng cuộc cạnh tranh mới đang bổ sung một thước đo khác: cảng biển phải vận hành hiệu quả hơn, sử dụng năng lượng sạch hơn và giảm tác động đến môi trường.
Đó không còn là câu chuyện riêng của ngành Hàng hải. Đó là một phần trong hành trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa khát vọng đưa kinh tế biển Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, bền vững.
![]() |
| Theo quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển Nam Trung Bộ đến năm 2020 – 2030, sau khi nghiên cứu các yếu tố thủy văn, tiêu chí thuận lợi về xây dựng, khai thác du lịch, khả năng thu hút vốn đầu tư… Khánh Hòa thống nhất chọn cảng Nha Trang để xây cảng đón tàu khách du lịch quốc tế. |
Đề án chuyển đổi và phát triển cảng xanh tại tỉnh Khánh Hòa là một lát cắt đáng chú ý của hành trình ấy. Với 6 khu bến được đưa vào phạm vi nghiên cứu, địa phương đang đặt ra yêu cầu chuyển đổi không chỉ đối với hạ tầng, mà cả tư duy đầu tư và phương thức quản trị của doanh nghiệp cảng biển.
Khi quy mô cảng biển phải đi cùng chất lượng tăng trưởng
Tỉnh Khánh Hòa có lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý, đường bờ biển dài và khả năng kết nối với các tuyến hàng hải trong khu vực. Hệ thống cảng biển địa phương đang được định hướng phát triển thành một trong những động lực quan trọng của kinh tế biển, logistics và công nghiệp hậu cần.
Theo thông tin tại cuộc họp về Đề án chuyển đổi và phát triển cảng xanh ngày 2/10/2026, đến cuối năm 2025, lượng hàng hóa thông qua các cảng biển Khánh Hòa đạt gần 15 triệu tấn. Giai đoạn 2021–2025, sản lượng tăng bình quân 14% mỗi năm. Dự báo đến năm 2030, con số này có thể đạt 38–39 triệu tấn/năm.
Những con số ấy phản ánh dư địa tăng trưởng đáng kể của hệ thống cảng biển. Nhưng tăng trưởng nhanh cũng kéo theo áp lực lớn hơn về năng lượng, phương tiện xếp dỡ, vận tải, chất thải và phát thải khí nhà kính.
Một cảng biển có thể mở rộng cầu bến, tiếp nhận tàu lớn và nâng sản lượng khai thác. Tuy nhiên, nếu thiết bị tiêu hao nhiều nhiên liệu, hoạt động quản lý môi trường thiếu đồng bộ và dữ liệu phát thải không được kiểm soát, lợi thế về quy mô sẽ khó chuyển hóa đầy đủ thành năng lực cạnh tranh dài hạn.
Đây chính là điểm khác biệt giữa phát triển cảng biển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu. Hạ tầng lớn tạo ra khả năng khai thác, nhưng công nghệ, năng lượng và quản trị mới quyết định hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng quan tâm đến chuỗi cung ứng có trách nhiệm với môi trường, tiêu chuẩn xanh không còn là yếu tố "trang trí" cho hình ảnh doanh nghiệp. Nó đang trở thành một phần của năng lực tham gia thị trường và duy trì quan hệ với các đối tác.
Cảng xanh không chỉ là câu chuyện của những tấm pin mặt trời
Theo định hướng của Đề án, Khánh Hòa triển khai nghiên cứu và áp dụng thí điểm mô hình cảng xanh tại 6 khu bến gồm Bắc Vân Phong, Nam Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh, Cà Ná và Ninh Chữ. Đối với khu vực Trường Sa, việc xanh hóa được đặt trong yêu cầu kết hợp quốc phòng và dân sự.
Mục tiêu đến năm 2030 là hình thành nhóm bến cảng thí điểm được công bố đạt tiêu chí xanh; 100% bến cảng đầu tư xây dựng mới đáp ứng tiêu chí cảng xanh. Những bến cảng chưa đạt phải có kế hoạch khắc phục theo từng nhóm tiêu chí.
Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận không giới hạn ở một vài giải pháp công nghệ riêng lẻ. Các cảng được định hướng phát triển điện mặt trời áp mái, từng bước điện hóa thiết bị làm hàng và nghiên cứu thí điểm hệ thống cấp điện bờ (OPS) tại những bến trọng điểm.
OPS cho phép tàu sử dụng nguồn điện từ bờ trong thời gian neo đậu, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào máy phát điện chạy nhiên liệu trên tàu. Giải pháp này góp phần giảm phát thải và tiếng ồn tại khu vực cảng, đồng thời tạo điều kiện để hoạt động khai thác tiến gần hơn tới mô hình vận hành sạch.
Cùng với đó là yêu cầu kiểm kê khí nhà kính, xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) ở cấp cụm cảng. Khi lượng phát thải được đo lường và theo dõi, doanh nghiệp mới có cơ sở xác định khâu nào tiêu hao năng lượng lớn, giải pháp nào đem lại hiệu quả và nguồn lực đầu tư cần phân bổ ra sao.
Khung đánh giá được áp dụng theo Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 02:2022/CHHVN, gồm ba nhóm tiêu chí: Cam kết và sẵn sàng, chiếm 30%; Hành động và thực hiện, chiếm 50%; Hiệu lực và hiệu quả, chiếm 20%. Cách thiết kế này cho thấy một cảng biển không thể được xem là cảng xanh chỉ vì có hệ thống điện mặt trời hay một số thiết bị tiết kiệm năng lượng. Điều quan trọng là toàn bộ quá trình quản lý, vận hành phải tạo ra kết quả có thể kiểm chứng.
Khoảng cách từ cam kết đến năng lực thực hiện
Chuyển đổi xanh là xu hướng tất yếu, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có cùng điều kiện để thực hiện. Đầu tư thiết bị mới, cải tạo hệ thống cấp điện, xây dựng hạ tầng OPS, kiểm kê phát thải và chuẩn hóa quản trị môi trường đều đòi hỏi vốn, công nghệ và nguồn nhân lực.
![]() |
| Khánh Hòa đang đặt mục tiêu đưa cảng xanh trở thành một phần trong định hướng phát triển kinh tế biển, đồng thời hướng tới đóng góp vào cam kết phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam vào năm 2050 - Ảnh minh họa. |
Kết quả tự chấm điểm sơ bộ đối với 18 bến cảng đang khai thác tại Khánh Hòa cho thấy khoảng cách này khá rõ. Chỉ 4/18 bến cảng có kết quả tự đánh giá từ 3,5 điểm trở lên trên thang điểm 5.
Trong đó, Bến cảng Nhà máy đóng tàu Hyundai Việt Nam đạt 4,3 điểm; Bến cảng xăng dầu K662 đạt 3,8 điểm; Bến cảng quốc tế Cam Ranh đạt 3,7 điểm và Bến cảng tổng hợp Nam Vân Phong đạt 3,5 điểm. Điểm bình quân toàn cụm cảng đạt gần 2,5/5 điểm.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa - ông Lê Huyền nhấn mạnh đây là số liệu sơ bộ phục vụ định hướng. Kết quả sẽ được chuẩn hóa khi các doanh nghiệp hoàn thành hồ sơ tự đánh giá kèm minh chứng và không thay thế việc đánh giá, công bố hoặc công nhận theo quy định.
Những dữ liệu ban đầu đặt ra một vấn đề đáng suy nghĩ: mục tiêu chuyển đổi xanh có thể được xác lập ở cấp địa phương, nhưng hiệu quả cuối cùng lại phụ thuộc vào khả năng hành động của từng doanh nghiệp.
Với những cảng đã có nền tảng công nghệ và quản trị tốt, chuyển đổi xanh có thể trở thành cơ hội nâng cấp năng lực cạnh tranh. Với những đơn vị còn cách xa ngưỡng tiêu chí, đây là quá trình phải tính toán lại từ thiết bị, năng lượng đến phương thức tổ chức sản xuất.
Vì thế, yêu cầu đặt ra không chỉ là vận động doanh nghiệp tham gia, mà còn phải xây dựng cơ chế hỗ trợ đủ thực chất. Tại cuộc họp ngày 2/10, lãnh đạo tỉnh đã yêu cầu phân loại các cảng đang hoạt động, dự án đang đầu tư và dự án chuẩn bị kêu gọi đầu tư để có lộ trình phù hợp. Riêng hệ thống cấp điện bờ cần xác định rõ phạm vi đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước và trách nhiệm của nhà đầu tư.
Đây là cách tiếp cận cần thiết. Bởi nếu toàn bộ chi phí chuyển đổi được đặt lên vai doanh nghiệp mà thiếu cơ chế hỗ trợ hạ tầng dùng chung, ưu đãi vốn và hướng dẫn kỹ thuật, tiến độ xanh hóa có thể khó theo kịp mục tiêu.
Từ một cụm cảng địa phương đến khát vọng kinh tế biển bền vững
Cảng biển là một mắt xích quan trọng trong chuỗi logistics. Hiệu quả của cảng không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp khai thác, mà còn tác động đến chi phí vận tải, thời gian giao nhận, năng lực xuất nhập khẩu và sức cạnh tranh của hàng hóa.
Khi một cảng biển sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, giảm thời gian tàu phải vận hành máy phát điện, kiểm soát tốt chất thải và minh bạch dữ liệu môi trường, lợi ích không dừng lại ở phạm vi khu bến. Những cải thiện ấy có thể góp phần nâng chất lượng dịch vụ logistics và củng cố niềm tin của đối tác trong chuỗi cung ứng.
Với doanh nghiệp cảng, đầu tư xanh vì thế cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn. Các hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 14001 về môi trường, ISO 45001 về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, ISO 50001 về quản lý năng lượng có thể giúp doanh nghiệp chuẩn hóa hoạt động, kiểm soát rủi ro và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là kết quả thực tế. Một chiến lược xanh chỉ có ý nghĩa khi được chuyển thành mức tiêu thụ năng lượng thấp hơn, lượng phát thải giảm xuống, thiết bị vận hành hiệu quả hơn và dữ liệu môi trường minh bạch hơn.
Khánh Hòa đang đặt mục tiêu đưa cảng xanh trở thành một phần trong định hướng phát triển kinh tế biển, đồng thời hướng tới đóng góp vào cam kết phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam vào năm 2050. Để hiện thực hóa mục tiêu ấy, cần sự đồng hành của chính quyền, doanh nghiệp khai thác cảng, nhà đầu tư hạ tầng và các đơn vị cung cấp dịch vụ logistics.
Một quốc gia có thể sở hữu đường bờ biển dài, vị trí địa lý thuận lợi và nhiều cảng nước sâu. Nhưng những lợi thế tự nhiên chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi được chuyển hóa thành hạ tầng hiện đại, công nghệ tiên tiến và năng lực quản trị đạt chuẩn.
Khát vọng phát triển kinh tế biển Việt Nam vì thế không chỉ nằm ở việc xây thêm những bến cảng lớn hay đưa sản lượng hàng hóa lên những con số cao hơn. Khát vọng ấy còn nằm ở khả năng tạo ra những cảng biển vận hành hiệu quả, có trách nhiệm với môi trường và đủ sức tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cảng xanh không đơn thuần là một tiêu chuẩn mới của ngành hàng hải. Đó còn là phép thử đối với tư duy phát triển, năng lực đổi mới và quyết tâm nâng tầm kinh tế biển Việt Nam trong giai đoạn mới.